Phân biệt các kiểu ho thường gặp ở trẻ nhỏ

Bé bị ho liên tục la triệu chứng phản ánh có thể trẻ đang mắc phải một căn bệnh nào đó. Các bậc cha mẹ hãy biết phân biệt các kiểu ho của trẻ để biết cách chữa trị cho kịp thời.

Ho khàn tiếng

Bé nhà bạn phải đi ngủ với một cái mũi nghẹt nước nhưng may là bé vẫn ngủ yên trong một vài giờ. Đột nhiên, bạn nghe thấy tiếng ho văng vẳng của bé. Bạn thấy con đang rất khó khăn trong mỗi nhịp thở của mình.

Nguyên nhân là do viêm thanh khí phế quản, một căn bệnh do virus gây viêm ở thanh quản và khí quản. Bệnh này phổ biến nhất là giữa tháng 10 và tháng 3, thường ảnh hưởng đến trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi. Cơn ho này thường trở nên dịu hơn vào ban ngày nhưng sẽ quay trở lại vào ban đêm. Tiếng ho đôi khi cũng nghe như tiếng thở rít. Một vài trẻ cũng thường mắc bệnh này khi bị cảm lạnh.

Khi con thức giấc vì mắc ho, khoác áo vào cho bé rồi dẫn bé ra ngoài, vì không khí lạnh sẽ giúp thư giãn đường hô hấp. Hoặc là bật vòi nước nóng và ngồi với con trong phòng tắm khoảng từ 15 đến 20 phút, khi đó không khí ẩm ướt nhưng ấm có thể giúp con hít thở dễ dàng hơn. Đưa con đi khám ngay nếu con thực sự khó thở hoặc nếu tiếng thở rít tăng dần theo từng nhịp và kéo dài hơn năm phút

Sử dụng máy phun sương tạo độ ẩm trong phòng nếu có, và cho bé uống nhiều nước.

Ho có đờm

Ho có dịch nhầy, ngoài ra bé còn bị sổ mũi, đau họng, chảy nước mắt, và chán ăn.

Chỉ là chứng cảm lạnh thông thường, có thể kéo dài 1-2 tuần, nặng nhất (và dễ lây nhất) là thời gian vài ngày đầu tiên. Một thông tin thêm là trẻ thường bị cảm lạnh trung bình từ 6-10 lần một năm.

Vì cảm lạnh là do virus nên thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng gì. Nếu bé còn quá nhỏ không thể hỉ mũi được, mẹ hãy dùng nước muối nhỏ mũi chuyên dụng và ống hút mũi để giúp lấy đi các chất nhầy, giúp bé bớt ngứa mũi, ngứa họng gây ho.

Máy phun sương tạo độ ẩm và tắm nước ấm cũng rất có ích lúc này. Ngoài ra, bạn phải hỏi ý bác sĩ trước khi cho con uống bất kỳ loại thuốc không cần bán theo đơn nào, và đừng quên hỏi ở tuổi của bé  thì có thể ngậm thuốc ho được hay chưa.

Ho khan vào ban đêm

Suốt cả mùa đông, bé bị ho rất khó chịu. Vào ban đêm hoặc mỗi khi chạy nhảy nhiều, cơn ho lại càng nặng hơn.

Nguyên nhân là do hen suyễn, một căn bệnh mãn tính khi đường dẫn khí trong phổi bị viêm và hẹp lại, tiết ra chất nhầy. Bố mẹ thường nghĩ rằng thở khò khè là dấu hiệu ban đầu của bệnh hen suyễn, nhưng thật ra ho khan (đặc biệt vào ban đêm) mới là triệu chứng duy nhất có ở trẻ con.

Một điểm cần chú ý khác là cơn ho được “kích hoạt” do vận động, dị ứng, cảm lạnh, hoặc không khí lạnh. Nếu con bạn còn nhỏ hoặc gầy quá, bạn có thể thấy ngực của bé hóp lại rõ ràng trong khi hít thở.

Hãy đưa trẻ đi khám nếu bạn nghi ngờ bệnh hen suyễn. Với các trường hợp nhẹ có thể uống thuốc giãn phế quản dạng hít ngay trong cơn ho. Tình hình nghiêm trọng hơn  nếu con bạn khó thở nhiểu, không thể nói chuyện, ăn uống.

Ho rất khổ sở

Lần này bé đau ghê gớm, không còn sức mà chơi nữa. Bé cứ ho liên tục, sốt cao, đau mỏi cơ bắp, và sổ mũi.

Có lẽ bé đã bị cúm. Bệnh cúm ở trẻ có thời gian ủ bệnh kéo dài, do đó các bé vô tư mang vi rút đi loanh quanh vài ngày trước khi phát bệnh, làm lây nhiễm cho bạn bè và gia đình. Vi rút lan truyền qua các giọt nhỏ, vì vậy khi một người hắt hơi, virus cúm sẽ bay khắp căn phòng.

Cách chữa trị là cho bé uống thật nhiều nước và acetaminophen. Đối với trẻ trên 6 tháng, cho uống ibuprofen với thức ăn hoặc sữa để hạ sốt và giảm đau. Năm tới, đừng quên đưa trẻ đi tiêm vaccine ngừa cúm.

Ho khò khè, ùng ục

Bé đã bị cảm lạnh vài ngày nay rồi, bây giờ cơn ho của bé trở nên mệt nhoài, nghe hết hơi như tiếng huýt sáo. Hình như bé đang thở nhanh gấp và còn rất dễ cáu kỉnh.

Nguyên nhân có thể là viêm phế quản, nhiễm trùng tiểu phế quản. Khi cổ họng sưng lên, đầy chất nhờn thì rất khó thở. Bệnh này thường tấn công các em bé sơ sinh vào mùa đông. Liên hệ bác sĩ nhi khoa ngay nếu con có dấu hiệu khó thở hoặc khó uống.

Ho gà

Con đã bị cảm lạnh hơn một tuần và bây giờ đang bị các cơn ho hành hạ, có lúc ho nhiều hơn 20 lần trong một hơi. Giữa các cơn, con thấy khó thở, có tiếng ho khúc khắc khi hít vào.

Ho gà chính là tên của thủ phạm. Vi khuẩn ho gà tấn công niêm mạc đường hô hấp, gây viêm nhiễm nặng làm thu hẹp đường hô hấp. Trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ có nhiều nguy cơ mắc ho gà. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh là nguy cơ cao nhất.

Trẻ nhỏ dưới 6 tháng chưa đủ sức nên tiếng ho gà cũng không rõ ràng lắm, vì vậy bố mẹ sẽ khó phát hiện. Thay vào đó, khi cơn ho có thể kéo dài đến đỉnh điểm là bé sẽ nôn ói, tạm ngưng thở, và môi có thể ngả thành màu tím vì bé không tiếp nhận đủ oxy.

Gọi ngay cho bác sĩ nếu bạn thấy các triệu chứng trên. Trẻ dưới 6 tháng sẽ cần phải nhập viện. Vùng nhiễm trùng sẽ được điều trị bằng kháng sinh, và những người khác trong gia đình cũng cần uống để phòng bệnh và tăng cường hệ miễn dịch, vì ho gà rất dễ lây và khả năng miễn dịch lại bị suy yếu trong vòng năm năm sau khi chủng ngừa.

Ho nặng

Con bạn bị cảm lạnh đã một tuần nay, và càng ngày càng tệ hơn. Ho ướt và có đờm, hơi thở gấp hơn bình thường.

Có lẽ bé đã mắc bệnh viêm phổi. Bác sĩ có thể chẩn đoán căn bệnh sau khi kiểm tra và chụp X quang. Viêm phổi thường có thể điều trị tại nhà, nhưng nếu nghiêm trọng, con bạn cần phải ở lại bệnh viện trong một vài ngày.

Phân biệt các kiểu ho thường gặp ở trẻ nhỏ

Xem câu trả lời

Bé bị ho liên tục la triệu chứng phản ánh có thể trẻ đang mắc phải một căn bệnh nào đó. Các bậc cha mẹ hãy biết phân biệt các kiểu ho của trẻ để biết cách chữa trị cho kịp thời.

Ho khàn tiếng

Bé nhà bạn phải đi ngủ với một cái mũi nghẹt nước nhưng may là bé vẫn ngủ yên trong một vài giờ. Đột nhiên, bạn nghe thấy tiếng ho văng vẳng của bé. Bạn thấy con đang rất khó khăn trong mỗi nhịp thở của mình.

Nguyên nhân là do viêm thanh khí phế quản, một căn bệnh do virus gây viêm ở thanh quản và khí quản. Bệnh này phổ biến nhất là giữa tháng 10 và tháng 3, thường ảnh hưởng đến trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi. Cơn ho này thường trở nên dịu hơn vào ban ngày nhưng sẽ quay trở lại vào ban đêm. Tiếng ho đôi khi cũng nghe như tiếng thở rít. Một vài trẻ cũng thường mắc bệnh này khi bị cảm lạnh.

Khi con thức giấc vì mắc ho, khoác áo vào cho bé rồi dẫn bé ra ngoài, vì không khí lạnh sẽ giúp thư giãn đường hô hấp. Hoặc là bật vòi nước nóng và ngồi với con trong phòng tắm khoảng từ 15 đến 20 phút, khi đó không khí ẩm ướt nhưng ấm có thể giúp con hít thở dễ dàng hơn. Đưa con đi khám ngay nếu con thực sự khó thở hoặc nếu tiếng thở rít tăng dần theo từng nhịp và kéo dài hơn năm phút

Sử dụng máy phun sương tạo độ ẩm trong phòng nếu có, và cho bé uống nhiều nước.

Ho có đờm

Ho có dịch nhầy, ngoài ra bé còn bị sổ mũi, đau họng, chảy nước mắt, và chán ăn.

Chỉ là chứng cảm lạnh thông thường, có thể kéo dài 1-2 tuần, nặng nhất (và dễ lây nhất) là thời gian vài ngày đầu tiên. Một thông tin thêm là trẻ thường bị cảm lạnh trung bình từ 6-10 lần một năm.

Vì cảm lạnh là do virus nên thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng gì. Nếu bé còn quá nhỏ không thể hỉ mũi được, mẹ hãy dùng nước muối nhỏ mũi chuyên dụng và ống hút mũi để giúp lấy đi các chất nhầy, giúp bé bớt ngứa mũi, ngứa họng gây ho.

Máy phun sương tạo độ ẩm và tắm nước ấm cũng rất có ích lúc này. Ngoài ra, bạn phải hỏi ý bác sĩ trước khi cho con uống bất kỳ loại thuốc không cần bán theo đơn nào, và đừng quên hỏi ở tuổi của bé  thì có thể ngậm thuốc ho được hay chưa.

Ho khan vào ban đêm

Suốt cả mùa đông, bé bị ho rất khó chịu. Vào ban đêm hoặc mỗi khi chạy nhảy nhiều, cơn ho lại càng nặng hơn.

Nguyên nhân là do hen suyễn, một căn bệnh mãn tính khi đường dẫn khí trong phổi bị viêm và hẹp lại, tiết ra chất nhầy. Bố mẹ thường nghĩ rằng thở khò khè là dấu hiệu ban đầu của bệnh hen suyễn, nhưng thật ra ho khan (đặc biệt vào ban đêm) mới là triệu chứng duy nhất có ở trẻ con.

Một điểm cần chú ý khác là cơn ho được “kích hoạt” do vận động, dị ứng, cảm lạnh, hoặc không khí lạnh. Nếu con bạn còn nhỏ hoặc gầy quá, bạn có thể thấy ngực của bé hóp lại rõ ràng trong khi hít thở.

Hãy đưa trẻ đi khám nếu bạn nghi ngờ bệnh hen suyễn. Với các trường hợp nhẹ có thể uống thuốc giãn phế quản dạng hít ngay trong cơn ho. Tình hình nghiêm trọng hơn  nếu con bạn khó thở nhiểu, không thể nói chuyện, ăn uống.

Ho rất khổ sở

Lần này bé đau ghê gớm, không còn sức mà chơi nữa. Bé cứ ho liên tục, sốt cao, đau mỏi cơ bắp, và sổ mũi.

Có lẽ bé đã bị cúm. Bệnh cúm ở trẻ có thời gian ủ bệnh kéo dài, do đó các bé vô tư mang vi rút đi loanh quanh vài ngày trước khi phát bệnh, làm lây nhiễm cho bạn bè và gia đình. Vi rút lan truyền qua các giọt nhỏ, vì vậy khi một người hắt hơi, virus cúm sẽ bay khắp căn phòng.

Cách chữa trị là cho bé uống thật nhiều nước và acetaminophen. Đối với trẻ trên 6 tháng, cho uống ibuprofen với thức ăn hoặc sữa để hạ sốt và giảm đau. Năm tới, đừng quên đưa trẻ đi tiêm vaccine ngừa cúm.

Ho khò khè, ùng ục

Bé đã bị cảm lạnh vài ngày nay rồi, bây giờ cơn ho của bé trở nên mệt nhoài, nghe hết hơi như tiếng huýt sáo. Hình như bé đang thở nhanh gấp và còn rất dễ cáu kỉnh.

Nguyên nhân có thể là viêm phế quản, nhiễm trùng tiểu phế quản. Khi cổ họng sưng lên, đầy chất nhờn thì rất khó thở. Bệnh này thường tấn công các em bé sơ sinh vào mùa đông. Liên hệ bác sĩ nhi khoa ngay nếu con có dấu hiệu khó thở hoặc khó uống.

Ho gà

Con đã bị cảm lạnh hơn một tuần và bây giờ đang bị các cơn ho hành hạ, có lúc ho nhiều hơn 20 lần trong một hơi. Giữa các cơn, con thấy khó thở, có tiếng ho khúc khắc khi hít vào.

Ho gà chính là tên của thủ phạm. Vi khuẩn ho gà tấn công niêm mạc đường hô hấp, gây viêm nhiễm nặng làm thu hẹp đường hô hấp. Trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ có nhiều nguy cơ mắc ho gà. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh là nguy cơ cao nhất.

Trẻ nhỏ dưới 6 tháng chưa đủ sức nên tiếng ho gà cũng không rõ ràng lắm, vì vậy bố mẹ sẽ khó phát hiện. Thay vào đó, khi cơn ho có thể kéo dài đến đỉnh điểm là bé sẽ nôn ói, tạm ngưng thở, và môi có thể ngả thành màu tím vì bé không tiếp nhận đủ oxy.

Gọi ngay cho bác sĩ nếu bạn thấy các triệu chứng trên. Trẻ dưới 6 tháng sẽ cần phải nhập viện. Vùng nhiễm trùng sẽ được điều trị bằng kháng sinh, và những người khác trong gia đình cũng cần uống để phòng bệnh và tăng cường hệ miễn dịch, vì ho gà rất dễ lây và khả năng miễn dịch lại bị suy yếu trong vòng năm năm sau khi chủng ngừa.

Ho nặng

Con bạn bị cảm lạnh đã một tuần nay, và càng ngày càng tệ hơn. Ho ướt và có đờm, hơi thở gấp hơn bình thường.

Có lẽ bé đã mắc bệnh viêm phổi. Bác sĩ có thể chẩn đoán căn bệnh sau khi kiểm tra và chụp X quang. Viêm phổi thường có thể điều trị tại nhà, nhưng nếu nghiêm trọng, con bạn cần phải ở lại bệnh viện trong một vài ngày.

Tuyệt đối không được bỏ qua những lưu ý này khi chăm trẻ sơ sinh

Xem câu trả lời

Cơ thể trẻ sơ sinh rất non yếu cho nên khi chăm sóc trẻ các mẹ cần hết sức lưu ý những vấn đề sau để đảm bảo sự phát triển thể chất cũng như trí tuệ của trẻ.

Cách bế trẻ sơ sinh chuẩn theo từng tháng tuổi

Rất nhiều chị em phụ nữ, nhất là đối với những người lần đầu làm mẹ thường lóng ngóng không biết bế trẻ sơ sinh như thế nào là chuẩn nhất để không ảnh hưởng đến sự phát triển xương sống và xương cổ của bé.

Theo khuyến cáo của các bác sĩ Nhi khoa, việc bế trẻ sơ sinh theo những tư thế ngang, thẳng đứng hay bế vác vai cần phụ thuộc vào tháng tuổi của bé vì lúc đó xương mới cứng cáp và phù hợp.

Ví dụ, trẻ sơ sinh từ 1-2 tháng tuổi có chiều dài phần đầu chiếm khoảng 1/4 tổng chiều dài toàn thân nhưng xương sống còn rất yếu. Vì thế, nếu bế vác, trọng lượng của toàn phần đầu sẽ dồn xuống xương cột sống là không tốt. Tư thế nằm ngang là tư thế phù hợp nhất để bế trẻ sơ sinh từ 1-2 tháng tuổi.

Cách sử dụng bỉm và vệ sinh vùng kín

Có rất nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề khoảng thời gian lý tưởng nhất thay bỉm cho trẻ sơ sinh để không ảnh hưởng đến vùng kín của bé. Một vài người cho rằng cứ 5-6 tiếng thì nên thay nhưng số khác đưa ra con số 2-3 tiếng.

Và khoảng thời gian hợp lý nhất được nhiều chuyên gia ủng hộ nhất là 4-6 tiếng/ lần thay bỉm. Tuy nhiên, số lần không nên hạn chế nếu bé đi tiểu thường xuyên hơn. Bên cạnh đó, nếu trẻ sơ sinh “đi nặng” thì cần vệ sinh vùng kín và thay bỉm luôn chứ mẹ không nên để lâu.

Cách tắm cho bé

Tắm – không chỉ là hoạt động đơn giản của mẹ giúp làm sạch cơ thể cho trẻ sơ sinh mà còn là khoảng thời gian mẹ nên tận dụng để truyền đạt tình yêu thương đến con qua những cử chỉ âu yếm, vuốt ve hay ánh mắt dịu dàng.

Để đạt được những điều này, mẹ nên nắm vững từng quy trình, từ bước chuẩn bị cho đến cách tắm chuẩn cho bé.

Theo đó, để khoảng thời gian tắm diễn ra suôn sẻ và an toàn, mẹ nên chuẩn bị trước các vật dụng như: Bồn tắm, khăn ướt, sữa tắm, cốc múc nước, bông thấm nước tắm, nhiệt kế (đo nhiệt độ phòng), khăn khô.

Nhiều người thường lầm tưởng việc massage cho trẻ sơ sinh không đem lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, trên thực tế, các các bác sĩ khuyên mẹ nên thường xuyên massage cho con vì việc làm này đem lại nhiều ích lợi không ngờ.

Massage không chỉ đem lại cho bé cảm giác dễ chịu mà còn giúp điều trị một số căn bệnh vặt như đau bụng, mất ngủ, quấy khóc nhiều…

Massage ngực và bụng là động tác đem lại nhiều lợi ích nhất cho trẻ. Cơ chế vuốt ve nhẹ nhàng phần ngực và bụng sẽ giúp bé giữ đều được nhịp thở và rất tốt cho tim mạch.

Tư thế cho trẻ sơ sinh bú

Trong một số diễn đàn nuôi con, nhiều mẹ than phiền rằng tại sao con sơ sinh không chịu bú mẹ, ngọ nguậy liên tục trong khoảng thời gian bú. Và một phần nguyên nhân dẫn đến việc này được xác định đó là do mẹ cho con bú chưa đúng tư thế khiến cho việc bé tiếp cận với bầu sữa của mẹ không được tự nhiên nên không thể bú. Vì thế, tưởng là đơn giản nhưng tư thế cho con bú cũng là một trong những điều mẹ cần phải quan tâm.

Trước khi cho con sơ sinh bú, mẹ cần phải chuẩn bị tư thế đúng cho riêng mình:

– Nằm hoặc ngồi dựa lưng vào đâu đó để làm điểm tựa giúp ngồi thoải mái và không bị mỏi

– Nâng chân hoặc đầu gối lên nếu cần

– Nếu đang ngồi có thể lót một chiếc gối bên dưới bé để tránh cẳng tay bị mỏi

– Nếu bạn đang nằm theo hướng nằm ngửa, dùng gối, đệm để lót lưng và vai sao cho cảm thấy thoải mái nhất. Đặt phần bụng của bé về phía ngực và bụng bạn, co đầu gối lên để bé có điểm tựa đặt chân lên.

Cơ thể của bạn sẽ hỗ trợ cơ thể của bé và cho phép bé được cựa quậy theo ý bé muốn, ngọ nguậy đầu cũng như lần tìm vú mẹ.

– Nếu bạn nằm theo hướng nằm nghiêng, đặt gối ở dưới đầu bạn. Đặt bé nằm dọc song song với cơ thể bạn sao cho bụng bé hướng về phía mẹ. Ở tư thế này bạn cũng nên co đầu gối lên để con đặt bàn chân vào.

Chuyên gia phân tích những thói quen xấu của mẹ khiến trẻ sinh bệnh

Xem câu trả lời

Những thói quen tưởng chừng rất đơn giản của mẹ nhưng nó lại chính là nguyên nhân khiến trẻ dễ mắc các bệnh nguy hiểm như béo phì, tiểu đường…

Quá nhiều bệnh tật đeo đuổi

TS Nguyễn Khánh Hoà – chuyên gia về bệnh đái tháo đường tại Canada – cho biết, qua nghiên cứu và tìm hiểu của anh, trẻ thừa cân và béo phì đang tăng nhanh cả ở Việt Nam và trên thế giới.

Tại Mỹ, hiện nay có tới 1/3 trẻ em có hiện tượng thừa cân và trong đó khoảng 17% có hiện tượng béo phì. Tại Việt Nam, tỉ lệ thừa cân và béo phì năm 2002 và 2004 ở TP HCM là 5,9% và 11,7%. Một nghiên cứu mới hơn công bố năm 2013 tại TP.HCM cho thấy tỉ lệ thừa cân và béo phì là 17.8% và 3.2%.

Trẻ bị thừa cân, béo phì nguyên nhân chủ yếu là do dinh dưỡng bất hợp lý và ít hoạt động thể lực. Khẩu phần năng lượng vượt quá năng lượng tiêu hao, do đó phần dư thừa được chuyển thành mỡ tích lũy trong các tổ chức.

Một số nguyên nhân dẫn đến trẻ thừa cân được TS Hoà chỉ ra như sau:

Thứ nhất: Chế độ ăn giàu chất béo, đậm độ năng lượng cao có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì. Ít hoạt động thể lực, làm giảm tiêu hao năng lượng, tăng tích lũy mỡ.

Thứ hai: Rối loạn hoạt động của các hormone: Hormone tăng trưởng (GH) có liên quan đến hoạt động tiêu mỡ, quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ, do vậy nếu mất ngủ sẽ làm giảm tiêu mỡ đồng thời rối loạn quá trình sản xuất các hormone điều hòa ăn uống, giảm sản xuất leptin giúp não có cảm giác no nhưng tăng sản xuất ghrelin kích thích thèm ăn nên trẻ ăn nhiều.

Thứ ba: Ngoài ra, những trẻ có bố mẹ bị thừa cân, béo phì, cân nặng sơ sinh quá cao, suy dinh dưỡng thấp còi đều có nguy cơ thừa cân, béo phì.

Thứ tư: Thói quen ăn nhiều vào buổi tối, ăn khi xem tivi là đặc trưng của trẻ thừa cân, béo phì.

Hậu quả của thừa cân, béo phì tương đối nặng nề, bao gồm:

Nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol. Tại Mỹ và Canada tỉ lệ trẻ mắc đái tháo đường type 2 đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây do hiện tượng trẻ thừa cân và béo phì.

Nguy cơ rối loạn tâm lý do trẻ mặc cảm bởi hình thể hoặc bị bạn bè trêu chọc dẫn tới trầm cảm.

Nguy cơ dậy thì sớm, giảm phát triển chiều cao.

Mất nhiều cơ hội 

PGS Tạ Văn Bình – Nguyên Giám đốc Bệnh viện Nội tiết trung ương chia sẻ ông đang điều trị và theo dõi cho một bé trai học lớp 8 nhưng nặng tới gần 1 tạ.

PGS Bình cho biết trường hợp này bị tiểu đường tuyp 2 kèm theo nhiều bệnh lý khác phải điều trị lâu dài và đặc biệt ảnh hưởng tới cuộc sống, học hành và công việc sau này của các cháu. PGS Bình cho biết nếu so với những đứa trẻ bình thường, đứa trẻ thừa cân béo phì mất quá nhiều cơ hội cho cuộc sống và sinh hoạt của các cháu.

Thạc sĩ, Nguyễn Huy Cường – Nguyên bác sĩ tại Bệnh viện Bạch Mai chia sẻ, hiện nay có quá nhiều bà mẹ được khuyến khích tăng cân càng nhiều càng tốt ngay từ khi mang thai để sinh con to và thường “lờ” đi tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ ở giai đoạn sớm.

Mẹ sinh con quá to khiến nồng độ Glucose cao, cao huyết áp, lượng lipit có hại cao… có thể gây ra các bệnh lý hạ đường máu cấp nguy hiểm thậm chí có thể tử vong.

Đặc biệt, theo một nghiên cứu mới đây do trường Đại học Harvard thực hiện, những trẻ tăng cân nhanh trong 6 tháng đầu đời, có tỉ lệ thừa cân béo phì nhiều hơn đáng kể khi lên 3 tuổi.

Thạc sĩ Cường cho biết, với trẻ, các bà mẹ cần cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm chính. Việc tăng protein không tốt, nên cho các bé ăn với hàm lượng hợp lý và chất lượng tối ưu nhất, đồng thời khuyến khích con vận động thể chất để trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh dài lâu.

Theo Phương Thúy (Gia đình và Xã hội)

Bảo vệ trẻ trước mùa cao điểm bệnh thủy đậu

Xem câu trả lời

Mùa đông xuân hàng năm, cùng với các dịch bệnh truyền nhiễm khác, dịch bệnh thủy đậu rất dễ gia tăng và lây lan, tuy nhiên nhiều bậc phụ huynh chủ quan, cho rằng thuỷ đậu là một bệnh lành tính nên chưa chủ động cho con đi tiêm ngừa

Cục Y tế dự phòng- Bộ Y tế cho biết, mùa đông xuân hàng năm, cùng với các dịch bệnh truyền nhiễm khác, dịch bệnh thủy đậu rất dễ gia tăng và lây lan, tuy nhiên nhiều bậc phụ huynh chủ quan, cho rằng thuỷ đậu là một bệnh lành tính nên chưa chủ động cho con đi tiêm ngừa.

Theo các chuyên gia y tế, thủy đậu (trái rạ) là một bệnh có tính lây nhiễm rất cao. Có đến 9/10 trẻ sẽ bị bệnh thủy đậu trước 12 tuổi. Đây là căn bệnh truyền nhiễm mà trẻ em rất khó tránh khỏi. Bệnh có khả năng lây lan dễ dàng và đặc biệt nhanh trong số các bệnh lây qua đường hô hấp. Nếu trẻ chưa được tiêm ngừa hoặc chưa từng bị thủy đậu thì 90% có thể bị mắc bệnh khi tiếp xúc gần với người đang bị thủy đậu. Thậm chí có thể lây khi trẻ tiếp xúc với dụng cụ học tập, quần áo, đồ chơi… có chứa siêu vi trùng gây bệnh. Mặt khác, bệnh cũng truyền qua nhau thai từ mẹ sang con nếu người mẹ đang mang thai bị nhiễm thủy đậu.

Biến chứng thường gặp nhất là nhiễm trùng nốt rạ khiến trẻ phải nhập viện và thường để lại sẹo, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, đặc biệt là cho các bé gái. Ngoài ra, thủy đậu còn có thể gây các biến chứng khác như viêm phổi, viêm não và màng não, thậm chí tử vong trong một số trường hợp. Bệnh biểu hiện qua các ban sần – mụn nước gây khó chịu và ngứa toàn thân, kèm theo sốt. Bệnh còn có thể lây lan từ những người bệnh trong giai đoạn ủ bệnh chưa có triệu chứng.

Theo lý giải của các bác sỹ, khi chưa nổi mụn nước, nghĩa là trước khi phát bệnh 1-2 ngày, trẻ mang siêu vi trùng thủy đậu đã có khả năng lây bệnh cho những trẻ khác và khả năng lây lan này còn kéo dài nhiều ngày sau khi mụn nước đã đóng vảy. Do vậy, dù cách ly trẻ bị thủy đậu là việc làm bắt buộc nhưng thường không hiệu quả trong việc phòng tránh bệnh. Điều này giải thích vì sao khi trong lớp hoặc trường học có trẻ bị thủy đậu thì bệnh lây lan rất nhanh và thường tồn tại dai dẳng.

Các chuyên gia y tế khuyến cáo, ngoài việc cách ly, vệ sinh và chăm sóc cẩn thận cho trẻ khi trẻ bệnh, tiêm phòng vắc xin chính là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ trẻ và cả người lớn tránh khỏi thủy đậu. Các bậc cha mẹ cần lưu ý là nên chủng ngừa cho trẻ khi cơ thể trẻ khỏe mạnh và dịch bệnh chưa xảy ra. Không nên đợi đến khi trong lớp có bạn bị thủy đậu hoặc có dịch xảy ra mới chủng ngừa cho trẻ vì lúc đó có thể bé đã bị lây bệnh, vắc xin không kịp có tác dụng bảo vệ hoặc khan hiếm vắc xin do nhu cầu tiêm ngừa tăng cao.

Để con mình được bảo vệ tốt nhất, các bậc phụ huynh cần lưu ý đến một số điểm sau:

– Độ tuổi thích hợp để tiêm chủng là trẻ từ 1-10 tuổi.

– Trẻ dưới 13 tuổi chỉ cần tiêm 1 liều là đủ, nhưng cũng có thể tiêm thêm 1 liều nữa để gia tăng hiệu quả bảo vệ tối đa, tránh bị mắc thủy đậu dù trẻ đã được tiêm ngừa 1 liều vắc xin trước đó, do miễn dịch của trẻ với thủy đậu giảm theo thời gian và khi dịch bùng phát quá lớn.

– Trẻ từ 13 tuổi trở đi cần được tiêm đủ 2 liều.

– Quan trọng nhất là nên tiêm phòng cho trẻ trước mùa dịch ít nhất 1 tháng. Bởi, như các loại vắc xin khác, vắc xin thủy dậu cũng cần có thời gian ít nhất là 1, 2 tuần để phát huy tác dụng./.

Thiền giúp tim khỏe mỗi ngày

Xem câu trả lời

Nghiên cứu cho thấy thiền định thường xuyên có thể bảo vệ trái tim chống lại bệnh tật. Theo một nghiên cứu khoa học công bố trên tạp chí Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, thực hành thiền định có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Các chuyên gia đã xem xét hàng chục nghiên cứu được công bố trong hai thập kỷ qua và phát hiện ra rằng thiền có thể cải thiện một loạt các yếu tố liên quan đến bệnh tim và có giá trị như một chương trình chăm sóc sức khỏe tim mạch.

Thiền không chỉ có thể cải thiện chức năng của tim mà thực hành thiền thường xuyên có thể nâng cao nhận thức về cuộc sống và khuyến khích người tập duy trì nhiều hành vi lành mạnh như ăn kiêng thích hợp, ngủ ngon và tập thể dục thường xuyên…, những hành vi này đều tốt cho sức khỏe tim mạch.

Thiền tâm

Thiền liên quan đến việc ngồi thoải mái với đôi mắt khép kín và tập trung vào hơi thở, hình ảnh tinh thần hoặc lặp lại một từ hoặc cụm từ tích cực. Mục đích là để giữ cho tâm trí của người thực hành tập trung vào hiện tại và tránh xa những suy nghĩ căng thẳng hoặc mất tập trung. Khi tâm trở nên bình lặng, cơ thể cũng vậy.

Một thực hành thiền có lợi cho sức khỏe tim mạch như làm thay đổi cách bản thân đối mặt với stress để hạ huyết áp.

Nghiên cứu cho thấy rằng thiền định có thể ảnh hưởng tích cực đến một thước đo sức khoẻ của tim là biến thiên nhịp tim (HRV). HRV là số thay đổi trong khoảng thời gian nhất định của các nhịp tim. Đối với một số người, nó hoạt động như chất xúc tác vì HRV yếu sẽ là nguyên nhân của nhiều vấn đề và là báo động đỏ nhiều bệnh. HRV liên quan đến một loạt nguy cơ như căng thẳng, trầm cảm, tiểu đường, tim mạch, rối loạn giấc ngủ và mỡ bụng.

Thiền định 5 phút mỗi ngày có thể giúp cho sức khỏe tim mạch.

HRV cao là dấu hiệu của trái tim khỏe mạnh. Một nghiên cứu năm 2013 cho thấy HRV thấp có liên quan đến tăng nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ từ 32 – 45% ở những người không có bệnh tim mạch.

Thực hành thiền thường xuyên có thể nâng cao HRV của bạn. Một nghiên cứu cho thấy những người thực hành 5 phút thiền mỗi ngày liên tục trong 10 ngày có một HRV tốt hơn so với những người không thiền định.

Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng thiền có thể giúp hạ thấp huyết áp – trung bình, thiền làm giảm huyết áp tâm thu bằng 4,7mmHg và huyết áp tâm trương bằng 3,2 mmHg.

Hãy ngồi xuống thiền

Có nhiều cách khác nhau để thiền định nhưng có những cách đơn giản để bắt đầu là:

Ngồi yên lặng, nhắm mắt lại. Thở chậm.

Thư giãn tất cả các cơ của bạn, bắt đầu từ ngón chân, bàn chân tới đùi…

Nghiêng đầu sang trái, nghiêng đầu sang phải.

Mỗi lần thở ra, hãy nói hoặc tâm niệm từ “bình an”.

Khi ý nghĩ bị phân tán, hãy lặp lại những bước trên.

Tiếp tục trong 5-10 phút.

Hoặc/và trong một phút làm theo kĩ thuật thở này: Thở vào trong 5 giây; Giữ hơi thở của bạn trong 5 giây; Thở ra trong 5 giây; Giữ hơi thở của bạn trong 5 giây; Thực hành kiểu thở này 1 phút mỗi ngày

Thiền trong chuyển động

Ngồi và tĩnh lặng không phải là cách duy nhất để hành thiền. Các động tác trong yoga và thái cực quyền cũng tương tự như thiền định vì chúng nhấn mạnh các chuyển động chậm, kiểm soát hơi thở và tập trung tinh thần.

Ngay cả những bài tập nhấn mạnh những chuyển động chắc chắn, lặp đi lặp lại như đi xe đạp, bơi lội hoặc đi bộ có thể  coi là một hình thức thiền nếu bạn tập trung đầu óc vào hoạt động đó. Ví như đi bộ, hãy thở một hơi thật sâu với mỗi bước đi. Cảm nhận bàn chân của bạn và tập trung vào việc ổn định tinh thần và cảm xúc với mỗi bước chân. Khi bước, mỗi bước đọc to hoặc đọc thầm trong tâm trí từ “bình an”.

Cách để duy trì thực hành thiền định

Vạn sự khởi đầu nan, như với bất kỳ khởi đầu mới nào, cần mất thời gian để học cách thiền định và rèn luyện nó. Tốt nhất, nên bắt đầu từ những bước nhỏ và xây dựng kế hoạch tiến bộ với tốc độ của riêng bạn.

Ví dụ, chỉ dành 5 phút một vài ngày mỗi tuần để thiền định, sau đó tăng dần thời gian và tần suất cho đến khi có thể thực hành hàng ngày trong vòng 20 phút. Thực hành thiền định dù ngắn vẫn luôn tốt hơn so với không thực hành chút nào.

Thiết lập một lịch trình để giúp thiết lập thói quen thiền định. Thử ngồi thiền vào một thời gian nhất định mỗi ngày, như thế sẽ tạo được một thói quen tốt. Tuy nhiên, nếu bỏ lỡ 1 hoặc 2 ngày, đừng để thói quen này rơi mất, hãy tiếp tục quay trở lại thiền định bất kỳ lúc nào, bất kỳ chỗ nào có thể.

Hãy nhớ, thiền có thể là một cách để cải thiện sức khoẻ tim mạch và đồng thời giúp làm dịu tâm trí của bạn.

(Theo health.harvard.edu)

Những mốc khám thai quan trọng mà mẹ bầu cần ghi nhớ

Xem câu trả lời

Ngày nay, việc khám thai và siêu âm thai với các mẹ vô cùng đơn giản, xã hội phát triển, kéo theo sự phát triển về khoa học kỹ thuật, nên các trang thiết bị, máy móc y tế cũng phổ biến và hiện đại hơn. Theo các chuyên gia khoa sản, mẹ bầu không cần siêu âm quá nhiều mà cần chọn đúng thời điểm để bác sĩ dễ dàng thăm khám xem em bé có phát triển bình thường hay không. Dưới đây là những mốc quan trọng mà mẹ bầu cần nhớ!

1. Khám thai lần đầu khi có dấu hiệu mang thai

Lần khám thai đầu tiên giúp cho các mẹ biết rõ mình có đang mang thai hay không, đồng thời giúp cho các mẹ sớm phát hiện được những nguy cơ bệnh tật mà hai mẹ con có thể gặp phải trong những tuần đầu tiên của thai kỳ

2. Khám thai lần thứ 2 để nghe tim thai

Khoảng thời gian từ tuần thứ 6 – 8 của thai kỳ bác sĩ sẽ tiến hành siêu âm để xác định tim thai, kích thước túi ối, chiều dài phôi thai…để đánh giá sự phát triển của thai nhi có tương xứng với tuổi thai hay không. Bên cạnh đó, mẹ cũng sẽ được thực hành các bước khám lâm sàng như cân nặng, đo huyết áp… để kiểm tra sức khỏe có bị ảnh hưởng hay không, từ đó đưa ra hướng điều chỉnh phù hợp

3. Do độ mờ da gáy ở lần khám thai thứ 3

Khám thai ở giai đoạn tuần 11 – 13 rất cần thiết để đo độ mờ da gáy nhằm phát hiện các bất thường của nhiễm sắc thể có thể gây ra bệnh down, dị dạng tim, dị dạng tay chân, thoát vị cơ hoành…  Nếu qua tuần thai thứ 13, việc dự đoán thông qua các chỉ số này sẽ không còn chính xác nữa.

4. Xét nghiệm sàng lọc Triple test ở lần khám thai thứ 4

Xét nghiệm Triple test là loại xét nghiệm để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai và có thể dự đoán nguy cơ thai nhi mắc hội chứng Down hay dị dạng nhiễm sắc thể. Lần khám này rơi vào tuần 14 – 17 của thai kỳ.

5. Siêu âm 4D vào lần khám thai thứ 5

Ở thời điểm 21 – 24 tuần, khi tiến hành siêu âm 4D, bác sĩ có thể phát hiện các bất thường về hình thái của thai nhi như sứt môi, hở hàm ếch dị dạng ở cơ quan. Đặc biệt là các bất thường về tim và hệ xương, của thai nhi, từ đó có thể can thiệp kịp thời.

6. Khám thai lần thứ 6 khi thai nhi khoảng 32 tuần tuổi

Ở thời điểm thai nhi được 32 tuần , mẹ nên đến bác sĩ siêu âm sẽ giúp gia đình chủ động trong công tác chuẩn bị cho quá trình sinh nở.  Ngoài ra, các bác sĩ còn theo dõi động mạch rốn, động mạch não, động mạch tử cung, kiểm tra tình trạng nước ối, dây rốn… nhằm đảm bảo bé đang phát triển tốt ở giai đoạn cuối của thai kỳ.

7. Khám thai lần 7 từ tuần thứ 36 của thai kỳ trở đi

Khám thai ở tuần thứ 36 là bắt buộc, vì bác sĩ sẽ đưa ra các dự đoán về kỳ sinh nở của mẹ như sinh thường hay sinh mổ tùy vào tình hình cụ thể.

Mẹ bầu ghi nhớ những mốc khám thai này nhé!

Bệnh tay chân miệng ở trẻ – Nguyên nhân và cách điều trị.

Xem câu trả lời

Bệnh tay chân miệng ở trẻ là một nhiễm trùng do vi rút gây ra. Bệnh thường tự khỏi và không đe dọa nhiều đến sức khỏe của trẻ, tuy nhiên cũng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. Sau đây là các triệu chứng nhận biết bệnh tay chân miệng và cách điều trị bệnh để bệnh sớm chấm dứt.

Các triệu chứng thường gặp của bệnh tay chân miệng ở trẻ

– Sốt, chán ăn, ho, đau bụng, đau họng. Đôi khi, có thể gây nôn, nhất là nếu do chủng enterovirus 71 gây ra. Những triệu chứng này có thể kéo dài 12-48 giờ.

– Loét miệng: Sau 1 hoặc 2 ngày, các nốt đỏ bắt đầu xuất hiện, nhất là quanh lưỡi, lợi và mặt trong má. Những vết này rất đau, khiến trẻ khó ăn, uống và nuốt, khó chịu và quấy khóc. Những vết này sẽ hết trong vòng 5-7 ngày.

– Nổi ban trên da: những nốt nhỏ màu đỏ trên da của trẻ  xuất hiện cùng với những vết loét trong miệng, không được làm vỡ những nốt này, vì có thể khiến bệnh lây lan. Các nốt trên da và mụn nước có thể kéo dài tới 10 ngày.

Nguyên nhân gây ra bệnh chân tay miệng

Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một số virut khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc nhóm A. Đầu tiên xuất hiện trong miệng, gần amiđan, và xuống hệ tiêu hóa. Sau đó có thể lan tới các hạch bạch huyết và qua máu đi khắp cơ thể. Hệ miễn dịch sẽ chống trả lại virus để ngăn nó lan tới những cơ quan trọng yếu, như não.

Các virus gây bệnh có thể lây theo 2 cách:

– Bệnh lây lan do tay tiếp xúc những đồ vật nhiễm bẩn, sau đó đưa lên gần miệng hoặc mũi.

– Bệnh cũng có thể lây do hít phải virus trong không khí, do tiếp xúc với dịch từ các nốt mụn nước hoặc nước bọt của người bệnh

Điều trị bệnh tay chân miệng ở trẻ

Bệnh do virus gây ra, thì không thể điều trị bằng kháng sinh. Các thuốc chống virus cũng không hiệu quả trong điều trị tay chân miệng tuy nhiên có thể giảm nhẹ triệu chứng bằng cách:

– Cho trẻ nghỉ ngơi và uống nhiều nước (tốt nhất là nước thường hoặc sữa; tránh những đồ uống có tính a xít như cô ca hay nước cam); Cho trẻ ăn thức ăn mềm như cháo,súp,…

– Hoặc dùng thuốc điều trị triệu chứng, như: paracetamol và ibuprofen, giúp giảm đau họng và hạ sốt. Với phụ nữ có thai, nên dùng paracetamol. không dùng aspirin cho trẻ dưới 16 tuổi.

– Có nhiều loại gel, thuốc xịt và nước súc miệng để điều trị loét miệng, những thuốc này bao gồm: Xịt benzydamine – dùng cho trẻ từ 5 tuổi trở lên; Súc miệng benzydamine – dùng cho trẻ từ 12 tuổi trở lên; Gel choline salicylate –  phù hợp cho người lớn từ 16 tuổi trở lên, không dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.   Một cách khác thường được dùng là súc miệng bằng nước muối ấm.

 

Trẻ sơ sinh chậm phát triển

Xem câu trả lời

Trẻ sơ sinh chậm phát triển là nỗi lo lắng của nhiều bậc phụ huynh. Bố mẹ nên nắm rõ các dấu hiệu trẻ sơ sinh chậm phát triển để kịp thời can thiệp trị liệu, cải thiện tình hình cho con.

1.Ngẩng đầu

Ngẩng đầu (ngóc đầu) là một trong những động tác cơ bản, quan trọng, đầu tiên nhất của trẻ nhỏ. Nếu trẻ 2-3 tháng tuổi vẫn không chịu ngóc đầu thì có thể do thời gian mẹ cho bé nằm sấp quá ít. Mẹ nên theo dõi con nhiều hơn nữa để kịp thời phát hiện chứng chậm phát triển (nếu có)

2.Đầu ngửa ra sau

Mẹ cho trẻ nằm thẳng, giữ hai tay bé, nâng bé lên, có bé sẽ ngửa đầu ra phía sau. Khi bế đứng, nếu mẹ không đỡ đầu, trẻ lại bị ngửa đầu ra sau (không giữ được đầu) thì là bất thường. Đây là dấu hiệu của chứng vẹo cổ, cơ cổ yếu… Nên đưa con đi khám bác sĩ ngay.

3.Không có khả năng chống lại sức nặng của cơ thể

Mẹ dùng tay kéo trẻ lên, hai chân con không có ý thức về việc co lên hoặc đứng vững để chống đỡ trọng lượng cơ thể. Mẹ hãy cho con nằm sấp nhiều hơn, tập cho trẻ lẫy bằng cách giúp trẻ lật người. Khi nào con lẫy thành thạo thì mẹ hãy tập cho con đứng.

4.Trên 6 tháng vẫn chưa biết cầm, nắm đồ chơi

Trẻ 4 tháng tuổi bắt đầu ưa nghịch bàn tay của mình bằng cách lấy bàn tay này cầm bàn tay kia, duỗi ra nắm vào, cầm lấy bất cứ thứ gì trong tầm với. Đến khi con đầy 6 tháng tuổi đã có thể cầm rất chắc những vật nhỏ và vặn cổ tay một cách linh hoạt. Nếu mẹ thấy con không cầm nắm được thì tăng cường đưa đồ chơi để hấp dẫn bé và có thể đưa đi khám xem tình hình thế nào. Ngoài ra, con không chịu tập ngồi, tập bò, lười vận động thì mẹ cũng không được coi thường.

5.Trên 9 tháng vẫn chưa biết ngồi

9 tháng là thời điểm trẻ sơ sinh đã có thể chập chững tập đi. Vì vậy, với các bé trên 9 tháng vẫn không thể tự ngồi một mình thì chứng tỏ trẻ sơ sinh chậm phát triển, gặp bất thường về khung xương.

6.Trên 12 tháng vẫn chưa bắt đầu biết đi

12 tháng tuổi là thời điểm con có thể bước được. Thông thường thì trẻ mới tập đi sẽ đi không vững, hơi run. Nhưng chỉ sau một thời gian là con sẽ cứng cáp dần. Việc cần thiết ở thời điểm này là chọn lựa cho con một đôi giày vừa phải, chắc chắn. Việc lựa chọn giày dép không chính xác không chỉ khiến cho chân trẻ phải chịu nhiều áp lực hơn. Trẻ bị đau chân, dễ khiến cho trẻ bị chân vòng kiềng, chân đi chữ X. Nếu như không phải do giày có vấn đề, hãy quan sát trẻ thật kỹ và cho đi khám.

             12 tháng tuổi là thời điểm con có thể bước được

7.Trẻ 18 tháng tuổi vẫn không chịu tự đứng

Đây là mốc thời gian con đã được 1,5 tuổi. Ở lứa tuổi này, nếu vẫn không thể tự đứng một cách vững vàng thì không thể chủ quan. Rõ ràng con đang gặp vấn đề về xương hoặc sự điều khiển cơ thể vận động của trí não. Trong trường hợp này, mẹ nên cho đi bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị ngay.

8.Trẻ 2-5 tuổi không tham gia các hoạt động về thể chất 

Giai đoạn 2-5 tuổi, hầu hết trẻ đều khá hiếu động, chạy nhảy thường xuyên. Nếu con ù lì, chỉ ở một chỗ thì mẹ nên đưa con đi khám để bác sĩ kiểm tra dây thần kinh vận động cho con. Ngoài ra, mẹ nhớ kĩ lại xem con có từng bị té ngã quá mạnh, bị thương… gì không. Bên cạnh đó, nếu trẻ đang đi đứng bình thường tự dưng chuyển sang bò, lười đi thì mẹ cũng phải can thiệp sớm. Ngoài 8 dấu hiệu trên, nếu con có thêm những dấu hiệu dưới đây thì mẹ cũng nên đưa đi gặp bác sĩ vì có thể con đã bị chậm phát triển:

–         Sự phát triển của trẻ đột nhiên chậm lại

–         Mỗi động tác của trẻ đều rất miễn cưỡng, khô cứng

–         Chân tay kém phản ứng

–         Rất nhanh xuống sức sau khi hoạt động

–         Mắt thường xuyên nhìn về một điểm, lờ đờ

–         Không giật mình với tiếng ồn xung quanh

–         Chậm nói, không bắt chước những âm thanh xung quanh

Riêng đối với chứng chậm nói, mẹ cần theo dõi kĩ lưỡng. Nguyên nhiên khiến trẻ chậm nói có thể do thính giác con có vấn đề (bé bị viêm tai; tai không nghe được; điếc bẩm sinh…). Mặt khác, việc chậm nói cũng có thể là dấu hiệu của chứng bệnh tự kỷ sớm, dính thắng lưỡi hoặc đứt đốt sống cổ.

                                                 Trẻ chậm nói có thể do thính giác kém phát triển

Các bố mẹ luôn phải nắm rõ dấu hiệu cảnh báo trẻ sơ sinh chậm phát triển để điều trị cho con kịp thời. Chứng chậm phát triển này nếu để kéo dài thì khi con lớn dần sẽ rất khó cải thiện, ảnh hưởng lớn đến thể chất, trí não và tương lai của con sau này. Tuy nhiên, trong quá trình quan sát, theo dõi, bố mẹ cũng thật kiên nhẫn, không nên quá nóng vội.

Dinh dưỡng để thai nhi tăng cân vào 3 tháng cuối thai kỳ

Xem câu trả lời

Trong những tháng cuối thai kỳ, mỗi mẹ bầu thường tăng khoảng 500g/tuần, tương đương 2kg – 2.5kg/tháng. Điều này đồng nghĩa với việc bé sẽ tăng hơn 1 kg so với tháng trước để đạt được cân nặng khoảng 3kg – 3.4kg, số cân lý tưởng cho sự phát triển khỏe mạnh sau khi chào đời. Do đó chế độ dinh dưỡng cho  trong giai đoạn này vô cùng quan trọng để bé sinh ra đảm bảo về mặt cân nặng. Cùng tham khảo những nhóm thực phẩm giúp thai nhi tăng cân vào tháng cuối nhé!

1.     Nhóm thực phẩm giàu đạm

Chất đạm giúp hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng tế bào và tái tạo máu. Đồng thời cũng sẽ giúp mẹ kiểm soát được số cân nặng của mình không bị tăng quá nhanh. Mẹ có thể bổ sung đạm bằng những thực phẩm như thịt nạc, cá, thịt gia cầm, trứng, đậu hũ,… Chế độ ăn nghèo chất đạm sẽ làm tăng nguy cơ dị tật thai nhi, sảy thai, thai chết lưu, thể trọng não nhẹ, số lượng tế bào não ít, ảnh hưởng đến quá trình phát triển trí não của thai nhi.

Tuy nhiên, thiếu đạm không tốt, nhưng thừa rất đáng lo. Dư thừa chất đạm sẽ dẫn đến tình trạng cản trở khả năng hấp thu can-xi của cơ thể mẹ, dẫn đến ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển hệ xương của thai nhi. Vì thế hãy chỉ ăn một lượng vừa phải khoảng 70gr và điều độ mỗi ngày.

                     Chất đạm giúp hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng tế bào và tái tạo máu

2. Đường, tinh bột và ngũ cốc

Hoa quả là nguồn đường tự nhiên tốt nhất cho chơ thể; gạo (gạo nếp, gạo tẻ, gạo lứt,…), bắp, đậu các loại và ngũ cốc là những thực phẩm cung cấp lượng tinh bột dồi dào. Tuy nhiên, đối với tinh bột chỉ nên ăn từ 2 – 3 chén cơm mỗi ngày nếu không mẹ sẽ bị tăng cân nhanh.  Đặc biệt không ăn nhiều tinh bột sau 8 giờ tối bởi ban đêm là thời điểm cơ thể sẽ không chuyển hóa dưỡng chất tốt mà còn làm hại hệ tiêu hóa của mẹ.

Nên ăn gạo lứt thay vì ăn nhiều gạo nếp, gạo tẻ vì đây là nguồn cung cấp năng lượng dồi dào và còn bổ sung thêm nhiều vitamin, chất xơ và khoáng chất quan trọng. Hàm lượng chất xơ cao trong các loại thực phẩm này sẽ giúp thúc đẩy nhu động ruột, giảm tình trạng táo bón khi mang thai.

Ngoài ra, hàm lượng vitamin và chất xơ trong các loại hoa quả không chỉ tốt cho sự phát triển của thai nhi mà còn có ích cho quá trình hấp thu sắt của cơ thể. Nhưng mẹ nên tránh xa những loại quả quá nhiều đường, bởi chúng có thể làm bạn nhanh tăng cân và mắc tiểu đường thai kỳ.

3. Bổ sung thêm sữa và phô mai

Ngoài việc tăng cường uống nước, mẹ nên uống nhiều sữa để cung cấp cho cơ thể lượng calo dồi dào hơn. Sữa giàu protein, can-xi và carbohydrate, có lợi trong việc tăng cân. Tuy nhiên nên chọn các loại sữa tươi không đường vì sữa có đường có thể gây nên tình trạng khó tiêu, tiêu chảy hoặc nghén nếu cơ thể không thể tiêu hóa lượng đường có trong sữa. Hơn nữa, sữa có đường sẽ làm mẹ tăng cân nhiều hơn sơ với sự tăng cân của bé.

Bên cạnh sữa đơn thuần thì mẹ có thể ăn thêm những ché phẩm từ sữa như phomai vì đây cũng là một dạng thực phẩm chưa nhiều canxi, chất béo, … tốt cho thai nhi

                        Sữa giàu protein, can-xi và carbohydrate, có lợi trong việc tăng cân.

Viêm dạ dày tá tràng

Xem câu trả lời

Viêm dạ dày tá tràng, hay còn gọi là viêm loét dạ dày, là tổn thương gây loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng (phần đầu của ruột non). Những tổn thương này xảy ra khi màng lót của dạ dày, tá tràng bị thủng và mô bên dưới bị lộ ra. Vết loét ở dạ dày xảy ra nhiều gấp 4 lần ở tá tràng.

  1. Nguyên nhân gây ra bệnh viêm dạ dày tá tràng

  • Chế độ ăn uống không hợp lý:
  • Sử dụng nhiều đồ uống có cồn,chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá…là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh viêm loét dạ dày. Hoặc ăn nhiều chất béo, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài, ăn kiêng thiếu khoa học.
  • Giờ giấc bữa ăn không sắp xếp hợp lý: ăn không đúng bữa, không đúng giờ, ăn quá khuya, lúc ăn thì quá no, lúc thì nhịn đói quá lâu cũng khiến dạ dày bị tổn thương, dẫn đến viêm loét.
  • Sử dụng thuốc tây kéo dài và các hóa chất gây hại cho dạ dày như: acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid…
  • Do nhiễm trùng: Hiện tượng nhiễm khuẩn Helicobacter Pylori (HP) được hầu hết các chuyên gia tiêu hóa quan tâm vì mức độ nghiêm trọng của nó đối với bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng.  Loại vi khuẩn này là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày và tá tràng.
  • Do áp lực tâm lý: Hiện tượng viêm loét dạ dày hay gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng. Tình trạng này thường gặp ở người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, gặp ở người lao động trí óc nhiều hơn ở người lao động chân tay.
  • Do nội tiết: Người bị bệnh đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan… cũng dễ mắc thêm bệnh viêm loét dạ dạy

2. Triệu chứng bệnh viêm dạ dày tá tràng

  • Đau bụng: Với người bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, thường gặp phải cơn đau bụng âm ỉ, đau trên rốn hoặc quanh rốn, đặc biệt tình trạng đau sẽ nghiêm trọng hơn mỗi khi người bệnh ăn quá no, hoặc để bụng quá đói, ăn không đúng giờ giấc, bỏ bữa, ăn nhiều vào ban đêm….Tuy nhiên, không phải cứ đau bụng là nghĩ ngay đến viêm loét dạ dày, mà để chắc chắn hơn dĩ nhiên việc đến bệnh viện khám và kiểm tra sẽ là cần thiết nhất.

                          Đau vùng bụng là biểu hiện của viêm loét dạ dày

  • Buồn nôn: Đau bụng kèm theo dấu hiệu buồn nôn…. cũng là một dấu hiệu của bệnh viêm loét dạ dày. Khi nôn, nếu trường hợp nôn ra cả thức ăn của ngày hôm trước hoặc bữa trước là do hệ tiêu hóa không hoạt động tốt, không nghiền nát được thức ăn, lúc này báo hiệu chức năng dạ dày đã bị suy yếu.
  • Rối loạn tiêu hóa: Đi ngoài thường xuyên, chỉ cần ăn một chút đồ ăn lạ hoặc thực phẩm không đảm bảo, ăn đồ ăn cay nóng, nhiều dầu mỡ thì sẽ ngay lập tức bị đi ngoài kèm theo tình trạng đau bụng âm ỉ, hoặc dữ dội.
  • Sụt cân: Đối với người mắc viêm loét dạ dày tá tràng, tình trạng sụt cân là điều dễ hiểu bởi thực phẩm khi được cho vào cơ thể, dạ dày đã bị viêm sẽ không làm tốt chức năng của mình, thức ăn không được tiêu hóa, dẫn đến tình trạng sụt cân.
  • Ợ hơi, ợ chua: Ngoài các triệu chứng kể trên, cơ thể còn ợ hơi, ợ chua, đầy bụng, ăn không tiêu, khó chịu ở vùng bụng,…..

             Khi bị viêm loét dạ dày người bệnh thường ợ hơi, ợ chua, ợ nóng

Khi thấy cơ thể có biểu hiện trên rất có thể bạn đã mắc chứng viêm loét dạ dày, hành tá tràng thì cần đến cơ sở y tế để kiểm tra, thăm khám và điều trị ngay khi bệnh đang ở giai đoạn mới hình thành.

1 2 3

Đặt câu hỏi cho chuyên gia