Cúm

Cúm (Influenza) là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do virus cúm. Bệnh thường tiến triển lành tính nhưng lây lan nhanh, dễ tạo thành dịch và có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng gây tử vong ở các đối tượng có nguy cơ cao. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 290.000 đến 650.000 ca tử vong liên quan đến cúm.

Tổng quan về bệnh cúm

Cúm là bệnh truyền nhiễm do virus cúm tấn công vào hệ hô hấp của người. Hầu hết các ca bệnh đều diễn biến nhẹ, người bệnh có thể tự khỏi trong vòng 2-7 ngày, tuy nhiên bệnh có thể biến chứng gây tử vong ở các đối tượng nguy cơ cao như:

  • Trẻ < 5 tuổi, đặc biệt là < 2 tuổi;

  • Người già > 65 tuổi;

  • Phụ nữ có thai và phụ nữ 2 tuần sau khi sinh;

  • Người bị suy giảm miễn dịch, thiếu máu;

  • Người mắc các bệnh mãn tính như: hen suyễn, tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan…;

  • Người béo phì, chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 40.

Cúm là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính

Cúm là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính

Nguyên nhân gây bệnh cúm

Cúm gây ra bởi virus Myxovirus Influenza thuộc nhóm Orthomyxoviridae, được chia làm 3 tuýp A, B, C. Virus này sẽ liên tục biến thể do đó vắc-xin phòng cúm cũng luôn cần cập nhật hàng năm để phù hợp với chủng mới đang lưu hành trên thế giới. 

Vỏ virus bản chất là glycoprotein bao gồm 2 loại kháng nguyên: kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H (Hemagglutinin) và kháng nguyên trung hoà N (Neuraminidase). Kháng nguyên H có 15 loại từ H1-H15; kháng nguyên N có 9 loại từ N1-N9. Tổ hợp các kháng nguyên này tạo nên các phân tuýp khác nhau của virus cúm A. Khi lưu hành, 2 kháng nguyên H, N luôn biến đổi, đặc biệt là kháng nguyên H. Những biến đổi nhỏ liên tục này gọi là “trôi” kháng nguyên (antigenic drift), chúng là tác nhân gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Các biến đổi nhỏ tích tụ lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân tuýp kháng nguyên mới (antigenic shift) và gây nên các đại dịch cúm trên toàn cầu do sự tái tổ hợp giữa chủng cúm người và cúm của các loài động vật khác (chim, lợn…).

Cấu tạo virus cúm

Cấu tạo virus cúm

Virus cúm có đề kháng yếu, bất hoạt dưới bức xạ mặt trời, tia tử ngoại, dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56 độ C và các chất hoà tan lipid nhưng có thể tồn tại ở ngoại cảnh hàng giờ, nhất là khi thời tiết lạnh, độ ẩm thấp; từ 0 đến 4 độ C, virus sống được vài tuần; còn trong điều kiện -20 độ C và đông khô, virus sống được hàng năm.

Triệu chứng, dấu hiệu nhận biết bệnh cúm

Các triệu chứng của cúm gần giống với cảm lạnh như đau họng, hắt hơi, sổ mũi... tuy nhiên có xu hướng xuất hiện đột ngột và nặng hơn, trong khi cảm lạnh tiến triển chậm. Triệu chứng điển hình của cúm gồm:

  • Sốt cao trên 38 độ C

  • Người mệt mỏi

  • Đau nhức cơ toàn thân

  • Cảm giác ớn lạnh

  • Đau đầu

  • Viêm họng

  • Ho khan

  • Ngạt mũi

Sốt cao là triệu chứng điển hình của bệnh cúm

Sốt cao là triệu chứng điển hình của bệnh cúm

Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cúm

Bất kỳ lứa tuổi, giới tính nào cũng có khả năng mắc cúm, trong đó trẻ em từ 5-9 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Tỷ lệ mắc bệnh nặng và tỷ lệ tử vong cao thường nằm ở nhóm trẻ < 2 tuổi, người già và người mắc bệnh mạn tính về tim, phổi, thận, các bệnh chuyển hóa, thiếu máu, hen suyễn hoặc suy giảm miễn dịch…), người mắc ung thư, béo phì nhiễm HIV/AIDS… Ở vùng ôn đới, dịch cúm thường xảy ra vào mùa lạnh; ở vùng nhiệt đới, dịch cúm thường có vào mùa mưa hoặc tản phát trong năm.

Đường lây nhiễm cúm

Cúm lây nhiễm qua đường hô hấp khi virus có trong các giọt nước bắn từ người bệnh khi ho, hắt hơi, nói chuyện. Người lành hít phải các giọt nước bắn này hoặc tiếp xúc vào những  đồ vật bị dính virus sau đó đưa tay lên mắt, mũi hoặc miệng… sẽ bị nhiễm bệnh cúm.

Virus cúm có trong các giọt bắn của người bệnh

Virus cúm có trong các giọt bắn của người bệnh

Bệnh có tỷ lệ lây lan mạnh khi tiếp xúc gần và trực tiếp, đặc biệt ở những nơi tập trung đông người như nhà trẻ, trường học, doanh trại, viện dưỡng lão... Trong điều kiện thời tiết lạnh và ẩm, các tế bào đường hô hấp dễ bị tổn thương làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Biến chứng của bệnh cúm

Đối với những người trẻ tuổi và có cơ thể khỏe mạnh, bệnh cúm mùa thường nhẹ, ít biến chứng, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên ở trẻ em và những người có nguy cơ cao, nhiễm cúm có thể dẫn đến các biến chứng như viêm phổi, viêm phế quản, hen suyễn, nhiễm trùng tai, thậm chí tử vong. Do đó, khi người bệnh có các biểu hiện ho sốt tăng, tức ngực, khó thở… cần đưa đến các cơ sở y tế để thăm khám và điều trị kịp thời.

Biện pháp chẩn đoán cúm

Về lâm sàng: Sốt (thông thường trên 38 độ C), đau nhức cơ toàn thân, có biểu hiện về hô hấp: đau họng, hắt hơi, chảy nước mũi, ngạt mũi, ho, khó thở. Hình ảnh X-quang phổi bình thường hoặc có thâm nhiễm phổi. 

Xét nghiệm công thức máu: cho thấy bạch cầu bình thường hoặc giảm.

Chẩn đoán xác định

  • Có yếu tố dịch tễ: sinh sống hoặc đến từ nơi có dịch cúm lưu hành hoặc tiếp xúc trực tiếp với người mắc bệnh cúm.
  • Lâm sàng: có các triệu chứng nêu trên.
  • Xét nghiệm: có kết quả dương tính với virus cúm khi làm xét nghiệm RT-PCR hoặc real time RT-PCR hoặc nuôi cấy virus đối với mẫu dịch ngoáy họng, dịch tỵ hầu hay dịch phế quản.

Chẩn đoán mức độ bệnh

Cúm nhẹ (chưa có biến chứng): có biểu hiện của chứng cúm đơn thuần trên lâm sàng.

Cúm nặng (có biến chứng): có biểu hiện lâm sàng như cúm nhẹ hoặc đã được chẩn đoán xác định là nhiễm cúm kèm theo một trong những biểu hiện sau đây: 

  • Tổn thương ở phổi, có biểu hiện suy hô hấp: thở nhanh, khó thở, SpO2 giảm, PaO2 giảm) và/hoặc:
  • Biến chứng thứ phát: viêm xoang, viêm phổi do bội nhiễm, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng.
  • Các bệnh lý mạn tính kèm theo (như bệnh tim, phổi, gan, suy thận, bệnh về máu, đái tháo đường…) có dấu hiệu nặng lên.

Phương pháp điều trị cúm

Hầu hết các ca bệnh cúm chỉ cần điều trị triệu chứng, cơ thể sẽ loại trừ virus trong vòng vài ngày. Các nguyên tắc chung trong điều trị bao gồm: cách ly người nhiễm hoặc nghi nhiễm cúm, đồng thời thông báo cho cơ quan y tế dự phòng; nhanh chóng đánh giá tình trạng người bệnh và phân loại mức độ bệnh; trường hợp bệnh nặng hay đã biến chứng nặng cần kết hợp hồi sức tích cực và điều trị căn nguyên; dùng thuốc kháng virus càng sớm càng tốt khi đã có chỉ định; ưu tiên điều trị tại chỗ, hạn chế chuyển tuyến nếu điều kiện cơ sở điều trị cho phép.

Điều trị bệnh cúm chủ yếu là điều trị triệu chứng

Điều trị bệnh cúm chủ yếu là điều trị triệu chứng

Điều trị theo mức độ bệnh

  • Cúm có biến chứng: nhập viện điều trị và dùng thuốc kháng virus càng sớm càng tốt.
  • Cúm kèm theo các yếu tố nguy cơ: nhập viện để theo dõi và xem xét điều trị sớm bằng thuốc kháng virus.
  • Cúm chưa có biến chứng: nếu triệu chứng nhẹ thì không cần làm xét nghiệm hoặc điều trị tại cơ sở y tế. Nếu triệu chứng nặng lên hoặc người bệnh thấy lo lắng về tình trạng sức khỏe nên đến cơ sở y tế để nhận tư vấn và chăm sóc.

Dùng thuốc kháng virus

Hiện nay các thuốc kháng virus được sử dụng gồm oseltamivir hoặc/và zanamivir, chỉ định dùng cho các trường hợp nhiễm/nghi nhiễm cúm A, B có biến chứng hoặc có yếu tố nguy cơ. Trong đó: 

- Oseltamivir: liều lượng theo lứa tuổi và cân nặng. Thời gian điều trị 5 ngày. Người lớn và trẻ em > 13 tuổi dùng 75 mg x 2 lần/ngày.

Trẻ từ ≥ 12 tháng đến ≤ 13 tuổi:

  • Số cân nặng ≤ 15 kg: 30 mg x 2 lần/ngày
  • Số cân nặng > 15-23 kg: 45 mg x 2 lần/ngày
  • Số cân nặng > 23-40 kg: 60 mg x 2 lần/ngày
  • số cân nặng > 40 kg: 75 mg x 2 lần/ngày

Trẻ < 12 tháng tuổi: 

  • Từ 0-1 tháng: 2 mg/kg x 2 lần/ngày
  • Trên 1-3 tháng: 2,5 mg/kg x 2 lần/ngày
  • Trên > 3-12 tháng: 3 mg/kg x 2 lần/ngày

- Zanamivir: dạng hít, được dùng trong trường hợp không có Oseltamivir, chậm đáp ứng hoặc kháng Oseltamivir.

  • Người lớn và trẻ em trên 7 tuổi: 10 mg (chia 2 lần hít, mỗi lần 5 mg) x 2 lần/ngày
  • Trẻ em 5-7 tuổi: 10 mg (chia 2 lần hít, mỗi lần 5 mg) x 1 lần/ngày

Điều trị cúm biến chứng

  • Khi có suy hô hấp: hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy, thở áp lực dương liên tục (CPAP) hoặc thông khí nhân tạo tùy trường hợp. 
  • Phát hiện và điều trị sớm với kháng sinh các trường hợp bội nhiễm vi khuẩn, suy đa phủ tạng.

Các biện pháp điều trị hỗ trợ

  • Hạ sốt: dùng paracetamol khi sốt cao > 38,5 độ C, không dùng các thuốc nhóm salicylate như aspirin để hạ sốt.
  • Đảm bảo cân bằng điện giải.
  • Chế độ dinh dưỡng cân bằng và nghỉ ngơi hợp lý.

Biện pháp phòng ngừa bệnh cúm

Hiện nay, biện pháp dự phòng cúm hữu hiệu nhất là tiêm vắc-xin, đặc biệt với những người có nguy cơ cao mắc biến chứng của bệnh, người sống chung hoặc chăm sóc người có nguy cơ cao. Vắc-xin cúm sẽ giúp tạo miễn dịch phòng vệ trước 3 hoặc 4 chủng cúm mùa phổ biến trong năm đó. Miễn dịch sau đó sẽ giảm dần theo thời gian, đồng thời các chủng virus cũng biến đổi liên tục vì vậy cần tiêm nhắc lại mỗi năm để tối ưu khả năng phòng bệnh, nhất là các đối tượng sau:

  • ­Phụ nữ trước khi mang thai;
  • ­Trẻ em từ 6 tháng tuổi cho đến 5 tuổi;
  • ­Người trên 65 tuổi;
  • Người mắc bệnh mạn tính như: tiểu đường, suy giảm miễn dịch, suy tim, tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính…;
  • Nhân viên y tế.

Tiêm phòng cúm là biện pháp ngừa bệnh hữu hiệu

Tiêm phòng cúm là biện pháp ngừa bệnh hữu hiệu

Ngoài tiêm chủng, các biện pháp vệ sinh cá nhân cũng góp phần quan trọng trong phòng bệnh cúm như:

  • ­Vệ sinh tay thường xuyên, tránh chạm tay vào mắt, mũi, miệng.
  • Hạn chế lui tới những nơi tập trung đông người trong mùa cúm cao điểm. ­Đeo khẩu trang khi đến những nơi đông người, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi.
  • ­Tự cách ly sớm những người bị sốt, mệt mỏi… các triệu chứng cúm nói chung.
  • ­Tránh tiếp xúc gần với người bệnh hoặc nghi nhiễm bệnh.

Đăng ký tư vấn

Đặt hẹn ngay để nhận tư vấn và xếp lịch khám kịp thời