Giãn tĩnh mạch chi dưới

Giãn tĩnh mạch chi dưới hay suy giãn tĩnh mạch chi dưới là sự suy giảm chức năng đưa máu về tim của hệ thống tĩnh mạch vùng chân. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ như một số bệnh khác nên ít khi được phát hiện sớm. Tuy nó không gây nguy hiểm nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày như gây chảy máu, loét chân không lành,... Cùng BVĐK Phương Đông tìm hiểu rõ hơn về căn bệnh này tại bài viết dưới đây.

Tổng quan về bệnh

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là tình trạng máu ở hệ thống tĩnh mạch bị ứ lại ở chân, không thể lên tĩnh mạch chủ để trở về tim như bình thường dẫn tới tăng áp lực thủy tĩnh trong lòng tĩnh mạch khiến tĩnh mạch bị giãn ra. Nếu không được can thiệp kịp thời và đúng cách thì bệnh sẽ tiến triển thêm làm dòng máu động mạch tới nuôi chân cũng bị giảm theo.

Bệnh giãn tĩnh mạch chi dướiBệnh giãn tĩnh mạch chi dưới

Hậu của bệnh bệnh là khiến người bị bệnh có cảm giác nặng ở chân, nhức mỏi, phù chân, tê dị cảm, chuột rút về đêm, như có kiến bò trên chân,... Trường hợp nặng hơn thì làm rối loạn tưới máu nuôi dưỡng chân dẫn đến các biến chứng như chàm da, loét chân không lành,... khiến việc điều trị trở nên khó khăn và mất nhiều thời gian hơn.

Giãn tĩnh mạch chi dưới ngày nay được xem là bệnh lý thời đại bên cạnh bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường do tần suất mắc bệnh tăng nhanh, đặc biệt tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp 3 lần so với nam giới.

Theo CEAP (Clinical - Etiological - Anatomical - Pathophysiological), suy giãn tĩnh mạch chi dưới được phân theo các độ như sau:

  • Độ 0: Không thấy hoặc không sờ thấy tĩnh mạch giãn.
  • Độ 1: Có mao mạch hoặc lưới tĩnh mạch giãn với kích thước < 3mm.
  • Độ 2: Giãn tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, kích thước > 3mm.
  • Độ 3: Phù nhưng chưa có sự biến đổi trên da.
  • Độ 4: Loạn dưỡng da gây rối loạn sắc tố, chàm tĩnh mạch, xơ mỡ da,...
  • Độ 5: Loạn dưỡng da và sẹo loét đã lành.
  • Độ 6: Loạn dưỡng da và vết loét tiến triển.

Nguyên nhân gây bệnh

Giãn tĩnh mạch chân là hậu quả của viêm thành tĩnh mạch, trào ngược máu tĩnh mạch xuống chân, ứ trệ tuần hoàn do máu từ chân về tim bị cản trở từ đó tĩnh mạch dần bị giãn to ra sau đó là biến chứng suy tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch sâu.

Dưới đây là một số nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch chân:

  • Tư thế sinh hoạt, làm việc: việc bạn đứng hoặc ngồi quá lâu tại 1 chỗ, ít vận động, mang vác đồ nặng,... đều tạo điều kiện cho máu dồn xuống 2 chân, làm tăng áp lực trong cho các tĩnh mạch ở chân, lâu dần gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu thì khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống chân bị suy giảm dẫn đến ứ máu ở 2 chân.
  • Làm việc trong môi trường ẩm thấp cũng là một trong những tác nhân khiến bệnh trầm trọng hơn.
  • Người mang thai nhiều lần, sinh đẻ nhiều, thừa cân béo phì, táo bón kinh niên, di truyền, bệnh nội tiết, sử dụng thuốc tránh thai, lười tập thể dục, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin,... khiến hệ tĩnh mạch chi dưới bị chèn ép dẫn đến giãn tĩnh mạch.
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu làm ngăn cản dòng máu trở về tim, viêm tĩnh mạch làm hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu và nông.
  • Bất thường bẩm sinh về hệ tĩnh mạch chi dưới, gồm cả van tĩnh mạch như sa van, giãn vòng van, thiểu sản hoặc bất sản van.
  • Quá trình thoái hóa do tuổi tác: tuổi thọ của con người ngày càng cao, điều này kéo theo những bệnh của quá trình tích tuổi như suy giãn tĩnh mạch,...
  • Mắc hội chứng Klippel Trenaunay Weber, hội chứng May Thurner

Triệu chứng bệnh giãn tĩnh mạch chân

  1. Giai đoạn đầu

Ở giai đoạn này triệu chứng bệnh thường mờ nhạt và thoáng qua, tuy nhiên người bệnh vẫn có biểu hiện đau, nặng chân, đôi khi có cảm giác mang giày dép chật hơn so với bình thường.

  • Mỏi chân và xuất hiện phù nề nhẹ khi đứng lâu hoặc ngồi nhiều
  • Bị chuột rút vào buổi tối
  • Cảm giác như chân bị kim châm, dị cảm như có kiến bò về đêm
  • Nhiều mạch máu nhỏ li ti (nhất là vùng cổ chân và bàn chân). Triệu chứng này thường không rõ ràng hoặc mất đi khi nghỉ ngơi nguyên nhân là do các tĩnh mạch giãn chưa nhiều, lúc giãn lúc không nên người bệnh thường không chú ý và phát hiện được.
  1. Giai đoạn tiến triển

Khi bước vào giai đoạn này, triệu chứng của bệnh sẽ là:

  • Phù chân, có thể phù ở mắt cá hoặc bàn chân
  • Vùng cẳng chân xuất hiện sự thay đổi về màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày với biểu hiện loạn dưỡng
  • Các tĩnh mạch bị trương phồng lên gây cảm giác nặng nề, đau nhức kèm theo hiện tượng máu thoát ra ngoài mạch gây phù
  • Hiện tượng này không biến mất khi nghỉ ngơi, nếu nặng hơn thì có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da một cách thường xuyên hoặc các mảng bầm máu trên da,...
  1. Giai đoạn biến chứng
  • Viêm tĩnh mạch nông huyết khối (biến chứng của viêm tĩnh mạch nông huyết khối chính là thuyên tắc tĩnh mạch sâu đoạn gần, đoạn xa và thuyên tắc phổi)
  • Xuất hiện tình trạng chảy máu nặng do giãn vỡ tĩnh mạch
  • Nhiễm khuẩn vết loét do thiểu dưỡng, viêm tĩnh mạch, suy tĩnh mạch mạn tính.

Tình trạng này dù có được điều trị tích cực thì khả năng phục hồi cũng rất chậm và khó lành.

Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh

Dưới đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới:

  • Người ngoài độ tuổi 50
  • Người bị béo phì, thừa cân
  • Người có chế độ ăn hàng ngày ít rau xanh và hoa quả dẫn tới táo bón
  • Người có công việc đặc thù phải đứng hoặc ngồi lâu trong thời gian dài
  • Người thường xuyên mang quần áo bó sát hai chân
  • Thường xuyên đi giày cao gót
  • Phụ nữ mang thai nhiều lần
  • Sử dụng thuốc tránh thai
  • Gia đình có người mắc bệnh.

Biến chứng của bệnh

Bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như sau:

  • Rối loạn huyết động học: cẳng chân bị sưng to, đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.
  • Viêm tắc tĩnh mạch: chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ, viêm cứng.
  • Giai đoạn cuối cùng có thể dẫn tới tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch gây ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân gây viêm loét, nhiễm trùng dẫn tới khó điều trị.
  • Hình thành cục máu đông trong lòng tĩnh mạch: đây là biến chứng rất nặng nề của bệnh và cũng thường hay gặp. Cục thuyên tắc này có thể tách rời khỏi tĩnh mạch, đi đến tim gây thuyên tắc động mạch phổi, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong. 
  • Chảy máu do giãn tĩnh mạch chi dưới có thể dẫn đến tử vong, tình trạng này không phải là vấn đề ít gặp nhưng thường không được điều trị đúng cách.

Biện pháp chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh suy giãn tĩnh mạch dựa vào 2 phương pháp là chẩn đoán lâm sàng và siêu âm Doppler mạch máu.

  • Khám lâm sàng: giãn tĩnh mạch chi dưới được chẩn đoán qua khai thác các yếu tố nguy cơ, triệu chứng của người bệnh như căng tức, tê hai chi dưới, đau và phù chân, chuột rút, búi tĩnh mạch nổi rõ, ngoằn ngoèo,... Ngoài ra thì ở người bệnh có mô dưới da mỏng, có thể nhìn, sờ thấy tĩnh mạch giãn ra và căng nhanh khi chuyển từ tư thế nằm sang đứng.
  • Siêu âm Doppler mạch máu: là siêu âm màu hệ thống tĩnh mạch chi dưới nhằm chẩn đoán khi ghi nhận dòng trào ngược qua van tĩnh mạch dưới với thời gian kéo dài trên 0.5 giây ở tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hoặc trên 0.1 giây ở tĩnh mạch đùi khoeo. Ngoài ra siêu âm còn có thể xác định được tổn thương của van tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, tĩnh mạch sâu và các van tĩnh mạch xuyên nhằm giúp cho việc lựa chọn kỹ thuật điều trị được phù hợp nhất. Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, hoàn toàn không gây đau, có thể thực hiện nhiều lần và độ chính xác cao trên 90%.

Phương pháp điều trị

Bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, khi bệnh còn nhẹ, chưa có biến chứng và người bệnh kiên trị phối hợp với bác sĩ thì có thể được điều trị hiệu quả.

  • Điều trị ở giai đoạn sớm: thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt như hạn chế đứng hay ngồi lâu một tư thế, mặc quần áo rộng rãi, thay đổi chế độ dinh dưỡng bằng việc bổ sung chất xơ, vitamin C để tăng sức bền thành mạch, phòng ngừa biến chứng của viêm thành mạch, dùng thuốc tăng cường trương lực tĩnh mạch đồng thời mang vớ y tế theo hướng dẫn.
  • Điều trị trong trường hợp bệnh nặng, ở giai đoạn muộn: các biện pháp kể trên được thay thế bằng phương pháp ngoại khoa có xâm lấn khác như chích xơ tĩnh mạch, đốt tĩnh mạch bằng sóng cao tần hoặc laser, dán thành tĩnh mạch bằng keo sinh học nhằm mang lại hiệu quả điều trị cao đồng thời rút ngắn thời gian nằm viện,... Nhược điểm của các phương pháp này chính là chi phí điều trị cao.
  • Phương pháp điều trị cuối cùng là phẫu thuật cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn: phương pháp này điều trị triệt để bệnh với tỷ lệ thành công cao trên 95%. Phẫu thuật Stripping là phương pháp cổ điển được lựa chọn phổ biến.

Biện pháp phòng ngừa bệnh

Dưới đây là một số biện pháp giúp làm giảm tình trạng trào ngược van tĩnh mạch để phòng cũng như cải thiện tình trạng bệnh:

  • Tránh đứng, ngồi lâu tại chỗ
  • Tập vận động cơ cẳng chân
  • Khi ngồi hoặc nghỉ cần để chân cao
  • Tập hít thở chủ động
  • Chế độ ăn đảm bảo nhiều chất xơ để tránh táo bón, béo phì,...
  • Mang tất (vớ) áp lực chuyên dụng.

Trên đây là toàn bộ thông tin liên quan đến bệnh lý giãn tĩnh mạch chi dưới. Mong rằng với những kiến thức này sẽ giúp mọi người chủ động hơn trong việc phòng tránh cũng như chữa trị bệnh. BVĐK Phương Đông cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao từ đội ngũ chuyên gia y tế hàng đầu cùng hệ thống trang thiết bị hiện đại, đảm bảo thăm khám nhanh chóng và chuẩn xác, mang lại sự hài lòng cho mọi khách hàng khi tin tưởng và lựa chọn Phương Đông.

Đăng ký tư vấn

Đặt hẹn ngay để nhận tư vấn và xếp lịch khám kịp thời