BỔ SUNG CANXI TRONG THAI KỲ VÀ VAI TRÒ TRONG VIỆC GIẢM NGUY CƠ TIỀN SẢN GIẬT

Khoa Dược

27-02-2026

goole news
16

Rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ là một trong những nguyên nhân gây ra những biến chứng nặng và tử vong cho cả mẹ và thai nhi, chiếm khoảng 14% tổng số ca tử vong ở sản phụ trên toàn cầu. Trong đó, tiền sản giật và sản giật là các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tật và tử vong chu sinh [9]. Có nhiều yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của tiền sản giật, đặc biệt là tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng và rối loạn chức năng nhau thai. Rối loạn chức năng nhau thai có thể dẫn đến hạ canxi máu làm nặng thêm tình trạng tiền sản giật. Thiếu hụt canxi ở mẹ có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng thai kỳ, bao gồm tăng huyết áp, sinh non, suy giảm mật độ xương [2]. Bổ sung canxi đầy đủ trong thai kỳ đã được chứng minh có lợi và được khuyến nghị như một biện pháp giảm nguy cơ tiền sản giật. Bài viết này thảo luận về vai trò và nhu cầu bổ sung canxi ở phụ nữ có thai trong phòng ngừa và giảm nguy cơ tiền sản giật.

CANXI VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BỔ SUNG CANXI TRONG THỜI KỲ MANG THAI

Tổng quan về canxi

Canxi là một khoáng chất phong phú được dự trữ trong cơ thể dưới dạng hydroxyapatit, giúp tạo độ bền vững cho hệ xương. Ước tính cơ thể người trưởng thành chứa khoảng 1000 g canxi ngoại bào [10]. Trong mô cơ, canxi dạng ion được dự trữ trong lưới nội chất cơ giữ vai trò then chốt đối với quá trình co cơ, do canxi gắn với troponin, cho phép myosin và actin hình thành các cầu nối chéo trong sarcomere, từ đó khởi phát sự co cơ. Quá trình này xảy ra ở cơ vân, cơ tim và cả các tế bào cơ trơn mạch máu, qua đó góp phần điều hòa trương lực mạch máu và huyết áp [6].

Do vai trò thiết yếu của canxi đối với nhiều hệ cơ quan, cân bằng nội môi canxi được điều hòa chặt chẽ bởi hormone tuyến cận giáp, vitamin D₃ và calcitonin. Khi nồng độ canxi huyết thanh giảm, hormone tuyến cận giáp được tiết ra, làm tăng tái hấp thu canxi tại thận, tăng cường hấp thu canxi ở ruột với sự hỗ trợ của vitamin D, đồng thời kích thích hoạt động của các tế bào hủy xương, dẫn đến quá trình phân giải xương và giải phóng canxi vào máu. Theo cách này, hệ xương đóng vai trò như một kho dự trữ canxi của cơ thể [6].

Vai trò của việc sử dụng canxi trong thời kỳ mang thai

Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu canxi tăng cao do quá trình vận chuyển tích cực canxi qua nhau thai từ mẹ sang thai nhi đóng vai trò thiết yếu trong quá trình khoáng hóa hệ xương của thai. Sự vận chuyển canxi từ mẹ sang thai nhi qua nhau thai tăng dần theo tiến triển của thai kỳ, làm gia tăng nhu cầu canxi của người mẹ và đạt mức cao nhất trong tam cá nguyệt thứ ba, khi thai nhi cần tới khoảng 250 mg canxi mỗi ngày để đáp ứng đầy đủ cho sự phát triển của xương. Tuy nhiên, những thay đổi chuyển hóa ở người mẹ, chẳng hạn như tăng hấp thu canxi tại ruột, có thể được ghi nhận sớm ngay từ tam cá nguyệt thứ nhất [2].

Lượng canxi huy động cho thai nhi có thể vượt quá lượng canxi được cung cấp từ khẩu phần ăn và khả năng bù trừ sinh lý của cơ thể mẹ ngay cả ở những phụ nữ có chế độ ăn giàu canxi trong giai đoạn đầu của thai kỳ. Nhu cầu canxi vẫn có thể tăng cao trong ba tháng cuối thai kỳ để phục vụ sự phát triển và hoàn thiện hệ xương của thai nhi, do đó làm giảm dự trữ canxi của người mẹ [2, 12]. Thiết hụt canxi ở mẹ có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng thai kỳ, bao gồm tăng huyết áp, sinh non và các hậu quả lâu dài đối với sức khỏe của mẹ như suy giảm mật độ xương [2, 12].

TIỀN SẢN GIẬT VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BỔ SUNG CANXI TRONG GIẢM NGUY CƠ TIỀN SẢN GIẬT

Tiền sản giật

Tiền sản giật (TSG) là rối loạn chức năng đa cơ quan liên quan đến thai nghén, chiếm tỷ lệ khoảng 2-10% trong toàn bộ thai kì. Tỷ lệ tiền sản giật đã tăng khoảng 25% trong 20 năm gần đây, đặc biệt là nhóm TSG khởi phát sớm [15]. TSG có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng ở sản phụ như xuất huyết mạch máu não, tổn thương thận cấp, sản giật, hội chứng HELLP (biến chứng của tiền sản giật nặng bao gồm sự kết hợp của tan máu, tăng men gan và giảm tiểu cầu).  Đối với thai nhi, TSG có thể dẫn tới tình trạng thai chậm phát triển, thiếu ối, rau bong non, sinh non, nặng hơn là thai chết lưu hoặc tử vong chu sinh [4].

TSG đặc trưng với sự xuất hiện triệu chứng tăng huyết huyết áp và protein niệu hoặc các triệu chứng lâm sàng liên quan đến tổn thương nhiều cơ quan. Triệu chứng tăng huyết áp trong TSG được xác định sau tuần thứ 20. Trường hợp bệnh nhân chưa biết giá trị HA trước đó, chẩn đoán khi HATT ≥ 140 mmHg hoặc HATTr ≥ 90 mmHg, đo 2 lần cách nhau 4 giờ và không quá 1 tuần. Chẩn đoán protein niệu trong TSG như sau: lượng protein bài xuất trong nước tiểu ≥ 300 mg/24 giờ, hoặc tỷ lệ protein/creatinine niệu ≥ 0,3 (mg/dl) hoặc dipstick 2+ [14].

Những yếu tố nguy cơ liên quan đến tiền sản giật bao gồm con so, thai kỳ đa thai, có thai cách lần mang thai trước trên 10 năm, TSG ở lần mang thai trước, béo phì, thai phụ lớn tuổi, các bệnh lý nền như đái tháo đường, tăng huyết áp, tự miễn, thai kỳ có hỗ trợ sinh sản… [11, 16]. Mức độ nguy cơ TSG được phân loại trong bảng 1 như sau:

Bảng 1: Phân loại mức độ nguy cơ TSG [14]

Một số nghiên cứu về vai trò của việc bổ sung canxi trong phòng ngừa tiền sản giật

Canxi làm giảm nguy cơ tăng huyết áp nhờ cơ chế sau: Canxi đóng vai trò then chốt trong quá trình co cơ, duy trì cân bằng nước và điều hòa huyết áp. Khi nồng độ canxi không đủ, cơ thể sẽ kích hoạt sự tiết hormone tuyến cận giáp, dẫn đến tăng nồng độ canxi nội bào trong các tế bào cơ trơn mạch máu. Sự gia tăng này gây co mạch và làm tăng huyết áp [17]. Do đó, việc duy trì nồng độ canxi đầy đủ giúp ổn định trương lực mạch máu, từ đó làm giảm nguy cơ tăng huyết áp [5, 17].

Khi nghiên cứu về tác dụng của việc bổ sung canxi trên các phân nhóm đối tượng phụ nữ mang thai, ta thấy được sự khác biệt về hiệu quả trong giảm nguy cơ tiền sản giật liên quan đến mức canxi nền trong khẩu phần ăn, điều kiện dinh dưỡng và khả năng tiếp cận chăm sóc y tế. Các đối tượng được phân nhóm theo mức độ nguy cơ tiền sản giật bao gồm nhóm nguy cơ cao (thiếu canxi, tiền sử tăng huyết áp thai kỳ hoặc tiền sản giật, các test sàng lọc dương tính…) và nhóm nguy cơ thấp (thai phụ khỏe mạnh). Những trường hợp không xác định rõ nguy cơ hoặc mức canxi nền được xếp vào nhóm tình trạng không xác định. Mức canxi nền thấp khi < 900 mg/ngày và đầy đủ khi ≥ 900 mg/ngày. Liều bổ sung canxi được chia thành ba mức: liều cao (≥1 g/ngày), liều trung bình (0,6–1,5 g/ngày) và liều thấp (<1 g/ngày). Kết quả của nghiên cứu thu được như sau: Bổ sung canxi đã được ghi nhận giúp giảm 47% nguy cơ tiền sản giật (RR: 0.53,95% CI: 0.42, 0.68), tuy nhiên mức độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu khá cao (I² = 84,39%). Phân tích phân nhóm cho thấy thai kỳ nguy cơ cao được bổ sung canxi làm giảm rõ rệt nguy cơ tiền sản giật (RR: 0.35,95% CI: 0.26, 0.47), tương ứng với mức giảm nguy cơ 65%. Trong khi đó, nhóm phụ nữ mang thai nguy cơ thấp được bổ sung canxi, nguy cơ giảm 33% (RR: 0.67,95% CI: 0.59, 0.77). Ngoài ra, hiệu quả của việc bổ sung canxi rõ rệt hơn ở phụ nữ tại các quốc gia đang phát triển so với các quốc gia phát triển [5].

NHU CẦU BỔ SUNG CANXI TRONG THAI KỲ

Nhu cầu bổ sung canxi trong thời kỳ mang thai

Bổ sung canxi được xem là một chiến lược có hiệu quả về chi phí nhằm giảm thiểu các hậu quả bất lợi do thiếu canxi trong thai kỳ. Việc kết hợp bổ sung canxi với các thực phẩm giàu canxi là cần thiết để đạt được tổng lượng canxi đầy đủ. Tuy nhiên, việc sử dụng liều canxi cao trong một lần có thể gây ra các tác dụng không mong muốn. Do đó, canxi nên được bổ sung dưới dạng chia liều trong ngày nhằm tăng cường hấp thu, giảm tác dụng phụ và cải thiện khả năng dung nạp cũng như hiệu quả điều trị [5].

Các khuyến nghị về nhu cầu canxi đối với phụ nữ mang thai ở các  quốc  gia  có  sự  khác  biệt. Năm 2015, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến nghị bổ sung canxi cho phụ nữ mang thai [7] và sau đó cập nhật các hướng dẫn nhằm nhấn mạnh lợi ích tiềm năng của canxi trong phòng ngừa tiền sản giật, đặc biệt là ở nhóm đối tượng có chế độ ăn canxi thấp [5, 7-9]

Khuyến cáo của WHO về việc bổ sung canxi trong thai kỳ là 1500-2000 mg/ngày, khuyến nghị này được lồng ghép như một biện pháp phòng ngừa tiền sản giật ở những đối tượng có nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ. Các yếu tố nguy cơ này bao gồm béo phì, tiền sử tiền sản giật, tăng huyết áp mạn tính, đái tháo đường, bệnh thận, tuổi của người mẹ cao và mang đa thai. Việc bổ sung có thể bắt đầu từ tuần thai thứ 20 và duy trì cho đến khi kết thúc thai kỳ. Cần đảm bảo rằng tổng lượng canxi đưa vào không vượt quá 3 g/ngày. Trước khi kê đơn bổ sung, chế độ ăn uống và lối sống của người mẹ cần được xem xét đầy đủ [6].

Ở Việt Nam, theo khuyến cáo của Bộ Y tế, nhu cầu khuyến nghị của canxi là 1200 mg/ngày đối với phụ nữ có thai và 1300 mg/ngày đối với phụ nữ cho con bú [13].

Phác đồ điều trị dự phòng tiền sản giật trong “Hướng dẫn sàng lọc, chẩn đoán và xử trí tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai, tiền sản giật và sản giật” của Bộ Y tế có đề cập đến việc bổ sung canxi như sau:

  • Bổ sung canxi liều ≥ 1 g/ngày.
  • Khuyến cáo sử dụng để dự phòng TSG cho nhóm có chế độ ăn có canxi thấp (<600 gram/ngày) hoặc nhóm nguy cơ cao không thể điều trị dự phòng bằng acetylsalicylic acid [15].

Nguồn thực phẩm bổ sung canxi

Hình 1: Một số thực phẩm bổ sung canxi

Canxi có thể được cung cấp hằng ngày thông qua chế độ ăn và lối sống phù hợp của thai phụ. Khẩu phần ăn nên bao gồm các thực phẩm giàu canxi như sữa và các chế phẩm từ sữa (sữa chua, phô mai, bơ), cùng với các loại rau lá xanh đậm như cải thìa, rau bina. Việc tiếp xúc hợp lý với ánh nắng mặt trời và tiêu thụ các thực phẩm giàu canxi kết hợp với vitamin D, như cá và sữa, cũng được khuyến khích trong suốt thai kỳ nhằm tối ưu hóa chuyển hóa canxi [1].

Các sản phẩm từ sữa là nguồn canxi tự nhiên phong phú và có khả năng hấp thu cao, giúp duy trì cân bằng canxi hiệu quả. Tuy nhiên, tình trạng không dung nạp lactose,  tình trạng phổ biến ở nhiều quần thể có thể hạn chế việc sử dụng nhóm thực phẩm này. Trong những trường hợp đó, cua, cá, đặc biệt là các loại cá nhỏ là lựa chọn thay thế phù hợp do vừa giàu canxi vừa cung cấp sắt và axit béo thiết yếu [6].

Nguồn thực vật là lựa chọn kinh tế hơn, mặc dù mức độ hấp thu canxi thường thấp hơn so với thực phẩm từ sữa. Các loại rau lá xanh như rau bina, cải xoăn và cải thìa chứa hàm lượng canxi đáng kể; trong đó cải thìa được đánh giá có khả năng hấp thu tương đối tốt. Ngoài ra, một số loại củ như khoai lang cũng góp phần bổ sung canxi trong khẩu phần ăn [15].


Hình 2: Hàm lượng canxi trong một số loại thực phẩm [3]

KẾT LUẬN

Canxi là khoáng chất thiết yếu của cơ thể. Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu canxi tăng cao nhằm đáp ứng sự phát triển hệ xương của thai nhi và duy trì sức khỏe xương của mẹ. Thiếu hụt canxi làm gia tăng nguy cơ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ, đặc biệt là tiền sản giật. Các nghiên cứu cho thấy bổ sung canxi giúp giảm đáng kể nguy cơ tiền sản giật, nhất là ở phụ nữ mang thai có nguy cơ cao hoặc có chế độ ăn thiếu canxi. WHO khuyến cáo bổ sung canxi với liều 1500–2000 mg/ngày từ sau tuần thai thứ 20, trong khi Bộ Y tế Việt Nam khuyến nghị nhu cầu canxi khoảng 1200 mg/ngày đối với phụ nữ mang thai. Việc bổ sung nên được chia liều trong ngày và kết hợp chế độ ăn phù hợp để tối ưu hóa hấp thu. Đây được coi là một biện pháp can thiệp dinh dưỡng hiệu quả, góp phần quan trọng trong phòng ngừa tiền sản giật. 

Biên soạn: DS. Nguyễn Thu Hằng - Đơn vị Dược lâm sàng và thông tin thuốc.

BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHƯƠNG ĐÔNG

Địa chỉ: Số 9, Phố Viên, Phường Đông Ngạc, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
Tổng đài tư vấn: 19001806
Website: https://benhvienphuongdong.vn

 

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

10

Bài viết hữu ích?

Nguồn tham khảo

Chủ đề Mang thai

Đăng ký nhận tư vấn

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách để được nhận tư vấn

ThS. Dược sỹ

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

Trưởng khoa Dược, Giám Đốc Trung tâm Tư vấn & Tiêm Chủng

ThS. Dược sỹ

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

Trưởng khoa Dược, Giám Đốc Trung tâm Tư vấn & Tiêm Chủng
19001806 Đặt lịch khám