Chuyện về ca ghép tế bào gốc đầu tiên tại miền Bắc

Ngọc Anh

24-02-2026

goole news
16

Ít ai biết rằng, từ hơn 20 năm trước, các bác sĩ Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật ghép tế bào gốc, một trong những phương pháp phức tạp nhất của y học hiện đại. Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính là người trực tiếp dẫn dắt ca ghép đầu tiên tại miền Bắc do ê-kíp hoàn toàn Việt Nam thực hiện, mở ra dấu mốc đáng tự hào cho ngành ung thư nước nhà.

Những năm gần đây, ghép tế bào gốc ngày càng được nhắc đến nhiều với tư cách là bước tiến đột phá, mở ra cơ hội phục hồi mô tổn thương và điều trị hiệu quả nhiều bệnh lý nguy hiểm như bệnh máu, bệnh tự miễn hay ung thư.

Tuy nhiên, ghép tế bào gốc không phải là “làn sóng mới”, hơn 20 năm về trước, kỹ thuật này đã được đặt những viên gạch nền móng tại Việt Nam, nhờ tâm huyết của những người thầy thuốc dám tiên phong, dám chịu trách nhiệm và bền bỉ học hỏi. Trong số đó có Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính, khi ấy là Chủ nhiệm Khoa Bệnh máu và Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, người trực tiếp tham gia và dẫn dắt ca ghép tế bào gốc đầu tiên tại miền Bắc do hoàn toàn ê-kíp bác sĩ Việt Nam thực hiện.

Hơn 40 năm sự nghiệp của mình, Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực y tế. 

Hơn 40 năm sự nghiệp của mình, Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực y tế. 

Nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 – 27/02/2026), ông đã xúc động chia sẻ lại những ký ức đặc biệt về thời khắc lịch sử ấy, khoảnh khắc khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng làm chủ kỹ thuật cao của y học nước nhà.

Bệnh viện Đa khoa Phương Đông trân trọng gửi tới Quý khách toàn văn bài chia sẻ đầy ý nghĩa này ngay dưới đây:

“Một trong những dấu ấn sâu đậm nhất trong thời gian tôi đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Khoa Bệnh máu và Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chính là quyết tâm triển khai ca ghép tế bào gốc đầu tiên tại bệnh viện.

Thời điểm đó, trong lĩnh vực ung thư của cả nước, mới chỉ có Bệnh viện Truyền máu – Huyết học TP. Hồ Chí Minh thực hiện thành công kỹ thuật này, dưới sự dẫn dắt của Bác sĩ Trần Văn Bé. Đó là vào năm 1995, ca ghép tế bào gốc đầu tiên được triển khai với sự hỗ trợ chuyên môn của đoàn 16 bác sĩ, điều dưỡng đến từ Đài Loan, mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân ung thư máu tại Việt Nam. Sau đó, một số cơ sở y tế phía Nam cũng từng bước thực hiện thêm các ca ghép khác.

Nhận thấy đây là xu hướng tất yếu và là cơ hội quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị, tôi đã mạnh dạn đề xuất Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho phép triển khai kỹ thuật ghép tế bào gốc tại đơn vị. Tuy nhiên, tôi cũng ý thức rõ những hạn chế về kinh nghiệm thực hành và nền tảng chuyên môn chuyên sâu. Vì vậy, song song với việc xin chủ trương, tôi tiếp tục đề xuất bệnh viện cử một đoàn bác sĩ, chuyên gia sang Hungary đào tạo bài bản về kỹ thuật ghép tế bào gốc, nhằm chuẩn bị đầy đủ năng lực trước khi chính thức triển khai tại Việt Nam.

Trong chuyến công tác học tập tại Hungary năm ấy, đoàn bác sĩ của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 gồm 4 người. Ba đồng nghiệp theo học chuyên sâu về cận lâm sàng, tập trung vào kỹ thuật tách và xử lý tế bào trong phòng thí nghiệm; còn tôi lựa chọn hướng lâm sàng – trực tiếp chẩn đoán, chỉ định và thực hành ghép tế bào gốc. Những tháng ngày ở nước bạn là quãng thời gian miệt mài học tập, nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, với mục tiêu duy nhất: làm chủ kỹ thuật để khi trở về có thể triển khai tại Việt Nam.

4 ngày huy động tế bào, mở ra kỳ tích ghép tế bào gốc đầu tiên tại miền Bắc

Ngay sau khi hoàn thành khóa đào tạo, tôi bắt tay vào xây dựng quy trình và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện ca ghép đầu tiên. Năm 2004, bệnh nhân được lựa chọn là Trung tá Trần Sơn Nguyên (sinh năm 1961, công tác tại Bộ tham mưu Quân khu 5), mắc u lympho ác tính không Hodgkin và đang điều trị tại Khoa Bệnh máu và Ung thư.

Khi quyết định triển khai ca ghép, toàn bệnh viện đều dõi theo, bởi đây là kỹ thuật hoàn toàn mới, phức tạp và chúng tôi chưa có tiền lệ thực hiện độc lập. Trước đó, dù trong nước đã có ca ghép thành công tại TP. Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài, nhưng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chúng tôi xác định sẽ tự đảm nhiệm toàn bộ chuyên môn.

Từ khâu lựa chọn bệnh nhân, xây dựng phác đồ điều trị, tính toán liều hóa chất, thực hiện ghép đến theo dõi sau ghép, tôi cùng tập thể Khoa trực tiếp triển khai. Áp lực rất lớn, nhưng cũng chính vì thế mà ký ức về ca ghép đầu tiên ấy trở thành một dấu mốc đầy tự hào trong sự nghiệp của tôi và của cả đơn vị.

Với quyết tâm cao độ và tinh thần kỷ luật của người lính, tôi xác định ngay từ đầu: mọi bước đi phải tuyệt đối chính xác và tuân thủ chặt chẽ quy trình chuyên môn. Trước tiên, bệnh nhân được điều trị ổn định theo phác đồ chuẩn. Khi các chỉ số đạt yêu cầu, chúng tôi sử dụng thuốc kích thích để huy động tế bào gốc ra máu ngoại vi. Quá trình huy động kéo dài liên tục 4 ngày mới thu đủ số lượng tế bào cần thiết. Toàn bộ tế bào gốc sau đó được bảo quản trong nitơ lỏng ở nhiệt độ -196°C để đảm bảo chất lượng tối ưu.

Khoảnh khắc nghẹt thở lúc 18h

Khi đã sẵn sàng nguồn tế bào, bệnh nhân tiếp tục được điều trị hóa chất liều cao nhằm “dọn sạch” tủy xương bệnh lý. Chỉ khi xét nghiệm cho thấy bạch cầu giảm về 0, đạt ngưỡng yêu cầu, chúng tôi mới tiến hành ghép.

Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính và cộng sự đã nỗ lực thực hiện ca ghép tế bào gốc điều trị u lympho ác tính không hodgkin đầu tiên tại miền Bắc. 

Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BS CKII Nguyễn Trung Chính và cộng sự đã nỗ lực thực hiện ca ghép tế bào gốc điều trị u lympho ác tính không hodgkin đầu tiên tại miền Bắc. 

Thách thức không chỉ nằm ở chuyên môn mà còn ở điều kiện cơ sở vật chất. Ở giai đoạn bạch cầu bằng 0, người bệnh gần như không còn khả năng miễn dịch, vì vậy phòng ghép phải đạt tiêu chuẩn vô trùng tuyệt đối. Sau khi bệnh viện hoàn thiện hệ thống phòng ghép đạt chuẩn, chúng tôi lập tức triển khai ca ghép cho Trung tá Nguyên.

Tổng cộng 10 túi tế bào gốc (mỗi túi khoảng 150ml) được lưu trữ đông sâu, sau đó rã đông ở 37°C theo đúng quy trình và truyền trở lại cơ thể người bệnh. Mỗi khâu đều được tính toán cẩn trọng, phối hợp nhịp nhàng, đánh dấu bước làm chủ kỹ thuật ghép tế bào gốc của ê-kíp hoàn toàn Việt Nam.

Trong suốt quá trình ghép, toàn bộ ê-kíp Khoa Bệnh máu và Ung thư làm việc với sự tập trung cao độ, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình khép kín từ khâu rã đông tế bào gốc đến truyền trở lại cơ thể người bệnh. Mọi thao tác đều phải chính xác tuyệt đối để đảm bảo an toàn tối đa. Sau khi hoàn tất truyền tế bào, chúng tôi vẫn không khỏi lo lắng về nguy cơ sốc phản vệ do cơ thể tiếp nhận một lượng lớn tế bào trong thời gian ngắn. May mắn, bệnh nhân chỉ xuất hiện phản ứng nhẹ và được xử trí kịp thời.

Giai đoạn hậu ghép là thử thách cam go không kém. Khi bạch cầu về mức 0, người bệnh phải nằm phòng vô trùng tuyệt đối trong thời gian dài chờ tủy hồi phục. Công tác chăm sóc đòi hỏi sự cẩn trọng đến từng chi tiết: từ chế độ ăn uống, sinh hoạt đến việc đưa bất kỳ vật dụng nào vào phòng cũng phải qua hệ thống khử khuẩn nghiêm ngặt. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng nguy hiểm.

Hai tuần sau ghép, chỉ số bạch cầu vẫn bằng 0, khiến cả ê-kíp căng thẳng tột độ. Nếu sau 4 tuần tủy không hồi phục, ca ghép có nguy cơ thất bại. Cảm giác lo lắng, căng thẳng tột độ ấy chính là ký ức ấn tượng mãi mãi không thể quên trong cuộc đời người thầy thuốc của tôi. Nhưng trời không phụ lòng người, chính những lúc tưởng chừng như cận kề thất bại ấy, thành quả đã đến với người xứng đáng. Vào tuần thứ ba, kết quả xét nghiệm ghi nhận bạch cầu đạt 0,1. Khoảnh khắc ấy, vào đúng 18 giờ, niềm vui vỡ òa trong toàn khoa. Ngay lập tức, chúng tôi báo cáo đến Giám đốc Bệnh viện, dù khi đó đang đi họp trên Bộ nhưng Giám đốc Bệnh viện cũng rất phấn khởi và gọi điện chúc mừng tôi, ekip phẫu thuật và toàn bộ Bệnh viện về thành công trên.

Chỉ số tiếp tục tăng dần và khi đạt mức an toàn, bệnh nhân được rời phòng ghép. Ca ghép thành công không chỉ là dấu mốc của riêng tôi hay của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, mà còn mở ra bước ngoặt cho kỹ thuật ghép tế bào gốc tại khu vực miền Bắc”./.

—----------------------------------

Đại tá, PGS.TS.Bác sĩ Nguyễn Trung Chính hiện giữ cương vị Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, với dấu ấn nổi bật trải dài từ hệ thống quân y đến mô hình bệnh viện tư nhân hiện đại. Trưởng thành từ môi trường quân đội, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 như: nguyên Trưởng khoa Ung bướu, Chủ nhiệm Khoa Bệnh máu và Ung thư, Phụ trách Trung tâm Tế bào gốc. Trước đó, ông từng là Giám đốc Trung tâm Huyết học – Truyền máu Khu vực Đồng bằng Bắc Bộ thuộc Bệnh viện Quân y 7 (Quân khu 3), đặt nền móng chuyên môn sâu về huyết học và điều trị ung thư.

Trong vai trò Chủ nhiệm Khoa Bệnh máu và Ung thư, ông là một trong những người đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển chuyên ngành Ung thư trong hệ thống Quân y. Bên cạnh công tác chuyên môn, ông còn giữ cương vị Ủy viên Thường vụ Hội Ung thư Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Y học Tái tạo và Trị liệu tế bào Việt Nam, đóng góp tích cực cho hoạt động học thuật và đào tạo chuyên ngành.

Từ năm 2019 đến nay, trên cương vị Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, ông định hướng phát triển hàng loạt đơn vị chuyên sâu như Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế; Trung tâm Y học Tái tạo và Trị liệu tế bào; Ngân hàng Mô Phương Đông… Đồng thời, ông là Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ Tế bào trực thuộc VUSTA, tiếp tục khẳng định vai trò nhà quản lý – nhà khoa học tâm huyết, tiên phong trong lĩnh vực ung bướu và công nghệ tế bào tại Việt Nam.

13

Bài viết hữu ích?

Đăng ký nhận tư vấn

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách để được nhận tư vấn

19001806 Đặt lịch khám