Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, trong đó có cả mạch vành và đột quị. Năm phần trăm (5%) các ca THA tìm được nguyên nhân là do THA thứ phát, có nghĩa THA là hậu quả của một bệnh lý tiền phát nào đó. Có thể điều trị hiệu quả các ca THA thứ phát thông qua điều trị nguyên nhân. Còn 95% THA là vô căn, có nghĩa là không tìm được bất kỳ nguyên nhân nào gây tăng huyết áp. Tăng huyết áp vô căn là kết quả của rất nhiều yếu tố tương tác phức tạp làm tăng áp lực máu trong lòng mạch. Có nhiều yếu tố nguy cơ tác động đến áp lực thành mạch, có những yếu tố không thay đổi (gen, tuổi, giới tính) nhưng có những yếu tố có thể phòng ngừa và kiểm soát được (cân nặng, khẩu phần ăn cung cấp các chất dinh dưỡng tác động đến huyết áp….).
Kiểm soát chế độ dinh dưỡng ở người bệnh tăng huyết áp giúp giảm gánh nặng cho tim, giảm lượng muối, cân bằng kali giúp cho huyết áp ổn định ở mức an toàn. Chế độ dinh dưỡng hợp lý là hướng tiếp hiệu quả, không gây tác dụng phụ. Hiệu quả điều trị THA được cải thiện rõ rệt ở những người bệnh có sự phối hợp dùng thuốc và điều chỉnh chế độ ăn
Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng huyết áp.
1.1. Chế độ ăn
+ Natri (Muối ăn): Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy ở các quần thể có tập quán ăn mặn thì tỷ lệ người bị tăng huyết áp cao hơn hẳn so với các quần thể có tập quán ăn nhạt hơn.
Ví dụ: Dân vùng Bắc Nhật Bản trước đây ăn trung bình 25-30g muối/người/ngày thì tỷ lệ THA đến 40%. Ngược lại, ở miền Nam Nhật Bản, người dân chỉ ăn khoảng 10g muối/ngày thì tỷ lệ người bị THA chỉ vào khoảng 20%. Người dân Eskimô và vài bộ lạc ở Châu Phi ăn rất ít muối thì hầu như không có người bị THA.
Ăn nhiều muối, ion Na+ sẽ được chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch máu gây tăng nước trong tế bào, tăng trương lực của thành mạch, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi và tăng huyết áp .
Nhu cầu Na+ là 2400 mg/ngày tương đương 6000 mg muối ăn. Do đó lượng muối ăn không được vượt quá 6000 mg (gram/ngày). Theo kết quả điều tra STEP của Bộ Y tế năm 2015, lượng tiêu thụ muối ăn của người Việt Nam là 9,4 g
+ Kali: Tăng nồng độ kali trong cơ thể dẫn tới giảm nồng độ natri và tăng bài xuất chất này ra khỏi cơ thể. Chế độ ăn giàu kali có thể là biện pháp có hiệu quả trong trường hợp cần tăng bài niệu và bài xuất natri. Ngược lại với natri, kali gây giãn mạch, do vậy làm giảm huyết áp. Lượng kali ăn vào cao giúp chống lại tăng huyết áp và kiểm soát tốt HA ở bệnh nhân tăng huyết áp. Lượng kali ăn vào không đủ có thể gây tăng huyết áp. Nếu hạ kali máu do dùng thuốc lợi tiểu cần bù kali .
Nhu cầu: khoảng 4-5 g/ngày.
Ở chế độ ăn hỗn hợp nhu cầu kali được thoả mãn hoàn toàn. Tuy vậy cũng dao động theo mùa, lượng kali ở khẩu phần thấp ở các mùa nghèo rau quả. Rau quả, gạo, khoai là nguồn cung cấp chính kali cho khẩu phần ăn.
+ Magnesium: giữ vai trò quan trọng trong điều hoà khả năng hưng phấn hệ thống thần kinh. Magie có tính chất chống co cứng và giãn mạch.
+ Calci: Nhiều nghiên cứu chứng tỏ lượng calci ăn vào thấp thường đi kèm với tăng huyết áp. Lượng calci ăn vào cao có thể hạ thấp được HA ở một số bệnh nhân tăng huyết áp nhưng hiệu quả chỉ tối thiểu. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh có một sự tương tác giữa calci ăn vào và sự nhạy cảm với muối đối với tăng huyết áp. Ăn nhiều calci thì HA hạ ở ngừời tăng huyết áp có nhạy cảm với muối.
+ Chất béo trong khẩu phần ăn:
Những nghiên cứu (Salonnen và CS, 1983, 1988) ở châu Âu cho thấy mối liên quan thuận chiều giữa acid béo no khẩu phần và huyết áp. Trong thử nghiệm lâm sàng cho thấy khi giảm tổng số chất béo từ 38-40% năng lượng khẩu phần xuống 20-25% hoặc tăng tỷ số giữa acid béo không no và acid béo no từ 0,2 lên 1 cho thấy huyết áp giảm rõ ràng. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy khi bổ sung cá, dầu cá, dầu ngô thì huyết áp giảm rõ ràng. Đó là vai trò của các acid béo không no n-3 và n-6. Ngoài ra chế độ ăn nhiều cholesterol có liên quan với tăng huyết áp.
+ Cà phê: có thể làm tăng huyết áp cấp tính. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khả năng dung nạp đối với cà phê nhanh và không có liên quan trực tiếp giữa cà phê và tăng huyết áp.
1.2 Tình trạng dinh dưỡng và tăng huyết áp
Cân nặng: Nhiều nghiên cứu ngắn hạn cũng như dài hạn đều khẳng định rằng có một mối tương quan rõ rệt giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và huyết áp. Tỷ lệ THA ở người béo phì cao hơn hẳn ở người không có béo phì đã trở thành một vấn đề cần quan tâm trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng
1.3. Hoạt động thể lực và huyết áp
Tập thể dục thường xuyên như đi bộ nhanh hoặc bơi lội 30 - 35 phút, 3 - 4 lần/ tuần. Thể dục nhẹ nhàng như vậy có hiệu quả trong việc hạ HA hơn là tập thể dục mạnh như chạy bộ và có thể hạ huyết áp tâm thu khoảng 4 - 8 mmHg, nên tránh mang vác các vật nặng.
1.4. Lối sống và huyết áp
Lạm dụng rượu/bia và tăng huyết áp: Nghiên cứu quan sát: uống nhiều rượu có liên quan với tăng áp lực thành mạch và tỷ lệ THA cao được quan sát thấy ở một số nghiên cứu. Những người đàn ông uống rượu trên 3-5 lần/ngày và phụ nữ uống rượu trên 2-3 lần/ngày có nguy cơ bị tăng huyết áp, nhưng uống rượu dưới mức này thì không thấy tăng nguy cơ bị THA. Những người nghiện rượu, uống rượu thành thói quen thì có liên quan với tăng huyết áp hơn là mới uống gần đây
Hút thuốc lá và tăng huyết áp: Hút thuốc lá và sử dụng thuốc lá điện tử làm đẩy nhanh quá trình xơ vữa hóa động mạch; làm suy giảm chức năng nội mô: viêm; lắng đọng lipid, hình thành cục huyết khối.
1.5. Yếu tố tâm lý và huyết áp
Căng thẳng (stress) là nguy cơ dẫn đến tăng huyết áp. Căng thẳng được khái niệm hóa như là nhận thức về các nhu cầu trong cuộc sống vượt quá khả năng thích nghi của từng cá thể, trong đó mức độ căng thẳng và thời gian căng thẳng là yếu tố quyết định dẫn đến nguy cơ tăng huyết áp. Nếu căng thẳng liên tục xảy ra sẽ dẫn đến THA liên tục. Ảnh hưởng của căng thẳng mạn tính trong công việc, quan hệ xã hội, tình cảm, kinh tế… là yếu tố làm tăng huyết áp.
Thiết kế chế độ ăn cho bệnh nhân tăng huyết áp
Chế độ ăn uống lành mạnh giúp kiểm soát cân nặng hiệu quả
2.1. Nguyên tắc chung
- Ăn giảm muối hơn bình thường, nên sử dụng dưới 5g/ ngày.
- Mức năng lượng khẩu phần theo tình trạng dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể: BMI)
- Tỷ lệ các chất sinh nhiệt cân đối
- Protein: 15%-20% năng lượng khẩu phần (tỷ lệ protein động vật/protein ≥ 50%)
- Lipid: 20-25% năng lượng khẩu phần. (tỷ lệ lipid động vật / lipid tổng số ≤ 60%).
- Glucid: 55-60% năng lượng khẩu phần.
- Đủ chất xơ ( 25-30 g)
2.2. Các thức ăn nên dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp
- Gạo tẻ, gạo nếp, các loại khoai và các loại đậu đỗ, lạc, vừng.
- Thịt ít mỡ như: thịt gà ta, thịt lợn nạc...
- Trứng: Nên ăn trứng gà vì trứng gà có ít lipid hơn trứng vịt.
- Sữa: nên ăn các loại sữa tách bơ không đường, sữa đậu nành, sữa chua.
- Cá, tôm, cua các loại.
- Các loại rau củ, quả nên ăn nhiều.
- Có thể dùng thêm tâm sen, lá vông, hoa hòe để an thần
- Dùng nước râu ngô, bông mã đề để lợi tiểu
- Khi huyết áp tăng cao nên ăn nhạt
2.3. Các loại thức ăn không nên dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp
- Thịt nhiều mỡ, mỡ, nước xương thịt ninh, cá béo (cá mè).
- Các loại phủ tạng: thận, óc, tim, gan, lòng... vì có nhiều cholesterol.
- Tránh rượu bia và các chất kích thích như gia vị, rượu, chè, cà phê
- Các loại mỡ, bơ, sữa nguyên
- Các thức ăn nhiều muối như thịt muối, cá muối, dưa cà muối, các loại thực phẩm chế biến như jambon, xúc xích, lạp sườn…
- Đường và các loại bánh, mứt, kẹo...
2.4. Hướng dẫn thực đơn dành cho người tăng huyết áp
Một ví dụ về thực đơn cho bệnh nhân tăng huyết áp đơn thuần cho nữ 60 tuổi có cân nặng 50 kg, chiều cao 1m50.
- Tổng năng lượng E = 1800 kcal.
- Số bữa: 5 bữa/ ngày
- Tỷ lệ các chất sinh năng lượng P:L:G = 19:24:57
Tổng hợp thực phẩm trong 01 ngày:
- Bún: 200 g
- Gạo tẻ: 180 g
- Thịt bò: 35 g
- Đậu phụ: 90 g
|
- Dầu ăn: 14 g
- Rau, củ, quả: 400 g
- Trái cây (400 g)
- Sữa tươi không đường
- Sữa chua: 1 hộp (100 g)
|
THỰC ĐƠN THAM KHẢO
|
Bữa
|
Món ăn
|
Thành phần
|
Khối lượng TP sống ăn được
|
Ghi chú
|
|
Bữa sáng
|
Bún bò
|
Bún
|
200g
|
Hạn chế ăn nhiều nước dùng bún/phở
|
|
Thịt bò
|
35g
|
|
Hành lá, rau sống
|
Vừa đủ
|
|
Nước dùng
|
250ml
|
|
Sữa ko đường
|
Sữa tươi không đường
|
1 hộp 180 ml
|
|
|
Bữa trưa
|
Cơm
|
Gạo tẻ
|
90g
|
|
|
Đậu phụ rang thịt
|
Thịt lợn nạc
|
55g
|
|
|
Đậu phụ
|
90g
|
|
|
Dầu ăn
|
6ml
|
|
|
Rau củ luộc
|
Su su luộc
|
150g
|
|
|
Canh rau mồng tơi
|
Rau mồng tơi
|
50g
|
|
|
Trái cây
|
Thanh long
|
140g
|
|
|
Bữa phụ chiều
|
Sữa chua, trái cây
|
Sữa chua
|
1 hộp
|
|
|
Chuối tiêu
|
60g
|
|
|
Quả bơ vỏ xanh
|
50g
|
|
|
Bữa tối
|
Cơm
|
Gạo tẻ
|
90g
|
|
|
Tôm hấp xả
|
Tôm biển (phần ăn được)
|
60g
|
(Tương đương 125g tôm sống)
|
|
Xả
|
20g
|
|
|
Canh cá
|
Thịt cá chép (đã bỏ xương)
|
30g
|
|
|
Dọc mùng
|
50
|
|
|
Cà chua
|
30g
|
|
|
Hành lá
|
Vừa đủ
|
|
|
Dầu ăn
|
7 ml
|
|
|
Rau củ luộc
|
Bắp cải
|
150g
|
|
|
Trái cây
|
Bưởi
|
100g
|
|
|
Bữa phụ tối
|
Sữa ko đường
|
Sữa tươi không đường
|
1 hộp 180 ml
|
|
2.5. Quy trình chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh tăng huyết áp
2.5.1. Đánh giá:
- Sử dụng công cụ đánh giá chủ quan toàn diện (SGA) hoặc Công cụ đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (MNA)
- Thêm vào tiêu chuẩn đánh giá về tim mạch nói chung, đánh giá các yếu tố: nguy cơ về lối sống, những thuốc lợi tiểu sử dụng, các bệnh tật tồn tại có thể thay đổi chế độ ăn kiêng, các xét nghiệm bất thường và ý nghĩa của nó
2.5.2. Chẩn đoán dinh dưỡng: Không tuân thủ, liên quan đến kém hiểu biết về quản lý chế độ ăn uống trong tăng huyết áp
2.5.3. Lập kế hoạch và thực hiện chăm sóc dinh dưỡng
Chế độ ăn giảm muối, giảm cân, tăng hoạt động thể lực, giảm đồ uống có cồn và tăng lượng kali trong khẩu phần ăn có hiệu quả giảm huyết áp hoặc phòng ngừa tăng huyết áp.
Khuyến cáo 2400mg sodium/ngày.
Việc giảm muối ăn từ từ dễ được chấp nhận và tuân thủy hơn là giảm một cách đột ngột. Khuyên người bị tăng huyết áp sử dụng chế độ ăn uống hạn chế muối vô thời hạn.
Khuyến cáo giảm cân là bước ban đầu trong điều trị những người thừa cân có tăng huyết áp mức trung bình vì kiểm soát cân nặng có khả năng kiểm soát phần lớn những người bị tăng huyết áp.
Có thể đi bộ, đi xe đạp, nhảy, làm vườn ba đến năm lần một tuần.
Người bệnh có thói quen uống rượu cần được khuyên nên hạn chế sử dụng (50ml rượu hoặc ít hơn/ ngày)
Nhiều sự nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ ngược giữa lượng kali ăn vào huyết áp: Lượng kali ăn vào càng cao, huyết áp càng thấp. Một số nhà nghiên cứu tin rằng tỷ lệ giữa kali và natri nên quan trọng như nhau,
Chế độ ăn giảm chất béo, giảm cholesterol
Các yếu tố dinh dưỡng khác bao gồm calci, magie và dầu cá
Nên ăn chế độ ăn hợp lý hơn là dựa vào bổ sung các chất.
Việc lập kế hoạch và thực hiện chăm sóc dinh dưỡng cho người tăng huyết áp là rất quan trọng để kiểm soát tình trạng sức khỏe