Vắc xin Tdap và DTaP đều là hai loại vắc xin phòng đồng thời ba bệnh lý uốn ván, bạch hầu và ho gà phổ biến nhất. Tuy nhiên, nếu Tdap là vắc xin chuyên dụng cho thanh thiếu niên trên 11 tuổi và người lớn thì DTaP lại được “đo ni đóng giày” cho trẻ em từ 6 tháng tuổi đến 7 tuổi.
Tìm hiểu về Tdap và DTaP
Vắc xin Tdap là gì?
Tdap là vắc xin kết hợp bảo vệ cơ thể khỏi ba bệnh uốn ván, bạch hầu và ho gà. Vắc xin này được điều chế dành riêng cho thanh thiếu niên và người lớn, không dùng cho trẻ nhỏ dưới 7 tuổi.
Điểm đặc trưng của Tdap là chứa hàm lượng kháng nguyên bạch hầu và ho gà thấp hơn so với DTaP. Việc giảm liều lượng hoàn toàn phù hợp với người lớn vì hệ miễn dịch của người trưởng thành không cần kích thích mạnh sinh ra kháng thể mới như trẻ nhỏ mà chỉ cần tiêm nhắc lại để duy trì kháng thể đã có.
Thông thường, bác sĩ sẽ tiêm 1 liều Tdap cho trẻ từ 11 đến 12 tuổi và sau đó tiêm nhắc lại mỗi 10 năm trong suốt cuộc đời. Với những người trưởng thành chưa từng tiêm Tdap hoặc không rõ lịch sử tiêm chủng thì nên tiêm phòng càng sớm càng tốt.
Bên cạnh đối tượng chỉ định là người lớn và người trưởng thành thì người đây còn là một trong số ít các loại vắc xin an toàn cho phụ nữ mang thai. Khi tiêm Tdap trong thai kỳ, cơ thể mẹ tạo ra kháng thể và truyền sang thai nhi qua nhau thai. Những kháng thể này sẽ bảo vệ bé trong giai đoạn bé chưa đủ tuổi để tự tiêm vắc xin và cũng là thời điểm con có nguy cơ biến chứng ho gà cao nhất.
Thời điểm lý tưởng nhất để mẹ bầu tiêm Tdap là từ tuần thứ 27 đến trước tuần thứ 36 của thai kỳ, tốt nhất là trước tuần 35. Lý do là kháng thể do Tdap vaccine cho bà bầu tạo ra cần ít nhất 2 tuần để ổn định và truyền sang thai nhi.
Lưu ý rằng: Vắc xin Tdap nên được tiêm nhắc lại trong mỗi lần mang thai. Bởi vắc xin chỉ có thể tạo ra và duy trì kháng thể trong khoảng thời gian nhất định.
Hiện nay, hai loại vắc xin Tdap phổ biến hiện có tại Việt Nam là Adacel (Canada) và Boostrix (Bỉ).

Tdap là vẵc xin phòng uốn ván, bạch hầu và ho gà dành riêng cho thanh thiếu niên và người lớn
Vắc xin DTaP là gì?
DTaP là vắc xin kết hợp dành riêng cho trẻ em từ 6 tuần tuổi đến dưới 7 tuổi, cũng có tác dụng phòng tránh ba bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà vô bào nhưng với hàm lượng kháng nguyên cao hơn so với Tdap. Chữ "D" viết hoa trong tên gọi thể hiện điều này.
Lý do DTaP được điều chế với liều lượng cao hơn là vì hệ miễn dịch của trẻ nhỏ còn non nớt và cần được kích thích mạnh để hình thành nền miễn dịch cơ bản từ đầu. Lịch tiêm DTaP cơ bản gồm 3 mũi lúc trẻ 2, 4 và 6 tháng tuổi, tiếp theo là mũi nhắc lại khi trẻ 15 đến 18 tháng và một mũi nữa lúc 4 đến 6 tuổi.
Tại Việt Nam, DTaP không được tiêm riêng lẻ mà thường xuất hiện dưới dạng phối hợp nhiều bệnh như Pentaxim (5 trong 1) hoặc Hexaxim (6 trong 1) giúp bảo vệ toàn diện cho các con chỉ qua một mũi tiêm thay vì nhiều mũi riêng lẻ.
So sánh điểm giống và khác nhau của vắc xin TDAP và DTaP
Theo các bác sĩ Trung tâm Tư vấn & Tiêm chủng vắc xin Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, cả Tdap và DTaP đều là vắc xin bất hoạt, kết hợp phòng ba bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là bạch hầu, ho gà và uốn ván trong một mũi tiêm. Cả hai đều có thành phần ho gà vô bào giúp giảm đáng kể các phản ứng phụ so với vắc xin ho gà toàn tế bào thế hệ cũ.
Về điểm khác biệt giữa hai loại vắc xin này, bạn có thể tham khảo bảng so sánh dưới đây:
|
Đặc điểm
|
Tdap
|
DTaP
|
|
Hàm lượng kháng nguyên
|
Liều bạch hầu và ho gà thấp hơn
|
Liều bạch hầu và ho gà cao hơn
|
|
Đối tượng tiêm
|
Thanh thiếu niên từ 11 tuổi, người lớn và phụ nữ mang thai
|
Trẻ em từ 6 tuần đến dưới 7 tuổi
|
|
Mục đích sử dụng
|
Tiêm nhắc lại để duy trì kháng thể đã có
|
Tiêm cơ bản để hình thành những kháng thể đầu tiên
|
|
Lịch tiêm
|
Một liều lúc 11–12 tuổi, nhắc lại mỗi 10 năm. Phụ nữ mang thai tiêm mỗi thai kỳ (tuần 27–35)
|
3 mũi cơ bản lúc 2, 4, 6 tháng tuổi. Nhắc lại lúc 15–18 tháng và 4–6 tuổi
|
|
Các loại vắc xin phổ biến
|
Adacel (Canada), Boostrix (Bỉ)
|
Pentaxim, Hexaxim, Infanrix Hexa, DTaP-IPV và nhiều loại phối hợp khác
|
|
Có thể tiêm cho bà bầu không?
|
Có và được khuyến cáo tiêm mỗi thai kỳ
|
Không khuyến cáo cho người lớn và phụ nữ mang thai
|

Tdap và DTaP khác nhau về đối tượng tiêm và mục đích tiêm
Vắc xin TDAP và DTaP có thể thay thế cho nhau không?
Không. Dù là vắc xin phòng tránh ba bệnh, Tdap và DTaP được bào chế với liều lượng kháng nguyên khác nhau vì hướng đến hai mục đích hoàn toàn khác nhau. DTaP được sản xuất để kích thích cơ thể sản sinh ra những kháng thể đầu tiên cho trẻ nhỏ nên cần liều mạnh vì hệ miễn dịch của trẻ chưa từng tiếp xúc với các tác nhân này.
Trong khi đó, Tdap có nhiệm vụ duy trì miễn dịch đã có nên chỉ cần liều thấp hơn để kích thích hệ miễn dịch. Nếu tiêm nhầm DTaP cho người lớn hoặc trẻ trên 7 tuổi, liều kháng nguyên quá cao có thể gây ra kích thích quá mức và dẫn đến nhiều triệu chứng phụ sau tiêm Ngược lại, tiêm Tdap cho trẻ nhỏ thay vì DTaP sẽ không tạo được kháng thể đủ mạnh để bảo vệ trẻ khỏi bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván.
Trên thực tế lâm sàng, không ít gia đình gặp phải là con đã tiêm đủ các mũi DTaP lúc nhỏ, đến năm 11 tuổi cần tiêm nhắc nhưng cha mẹ không biết lúc này phải chuyển sang Tdap chứ không phải tiêm thêm DTaP. Hoặc nhiều người lớn đi tiêm nhắc lại mà không rõ mình cần Tdap hay DTaP mà không biết đây là hai loại hoàn toàn khác nhau.
Theo các bác sĩ chuyên khoa, lộ trình tiêm phòng đúng chuẩn cho các em nhỏ bao gồm:
- Tiêm DTaP ( trong vắc xin phối hợp) lúc 2, 3, 4 và 16–18 tháng tuổi,
- Tiêm DTaP nhắc lại lúc 4–6 tuổi, rồi chuyển sang vắc xin Tdap lúc 11–12 tuổi và tiêm nhắc Tdap mỗi 10 năm cho đến cuối đời.
Với phụ nữ mang thai, tiêm Tdap trong mỗi lần mang thai là khuyến cáo riêng biệt và không tính vào lịch nhắc 10 năm thông thường. Để chắc chắn bạn và con được tiêm đúng loại và đúng thời điểm, tốt nhất là đến gặp bác sĩ hoặc cơ sở tiêm chủng uy tín để bác sĩ tư vấn phác đồ phù hợp nhất với từng người.

Phụ nữ mang thai cần tiêm nhắc lại uốn ván để bổ sung kháng thể cho thai nhi
Có thể nói, Tdap và DTaP đều là các loại vắc xin phòng bệnh bạch hầu - uốn ván- ho gà phổ biến nhất. Để phát huy tác dụng tốt nhất của mỗi loại vắc xin, người bệnh nên đến các cơ sở Tiêm chủng uy tín và thực hiện tiêm và tuân thủ theo hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa.