Loét áp (Aphthous) là những vết loét nhỏ, nông và gây đau, thường xuất hiện ở niêm mạc miệng như mặt trong môi, má hoặc dưới lưỡi. Tình trạng này khá phổ biến và thường tự lành, nhưng nếu vết loét tái phát nhiều lần, kéo dài hoặc gây khó khăn khi ăn uống, người bệnh cần lưu ý để tìm nguyên nhân và điều trị phù hợp. Vậy loét áp-tơ hình thành do đâu và xử lý thế nào để nhanh lành?
Loét áp là gì ?
Loét áp (loét áp-tơ/Aphthous ulcer) là tình trạng viêm loét nông, lành tính, thường xuất hiện ở niêm mạc miệng như môi trong, má trong, lưỡi, nền miệng hoặc nướu. Đây là một trong những bệnh lý tổn thương niêm mạc miệng phổ biến nhất, dân gian hay gọi là "nhiệt miệng". Chúng thường đặc trưng bởi một hoặc nhiều vết loét riêng lẻ, đau tái phát nhiều đợt, các tổn thương thông thường lành trong vòng 7 - 14 ngày.
Dấu hiệu lâm sàng của vết loét áp
Dịch tễ
Đây là một trong những bệnh lý niêm mạc miệng phổ biến nhất trên thế giới. Các thống kê dao động khá rộng, từ khoảng 5-25% đến 20-40% dân số từng bị loét áp-tơ ít nhất một lần trong đời, tùy theo nghiên cứu và khu vực khảo sát. Một số vùng được ghi nhận có tỷ lệ mắc cao hơn mặt bằng chung, đặc biệt là khu vực Trung Đông, Địa Trung Hải và Nam Á.
Nguyên nhân của loét áp là gì ?
Nguyên nhân chữa rõ, nhiều yếu tố liên quan đến bệnh như:
- Chấn thương: thường gặp ở vị trí chấn thương (bàn chải đánh răng, điều trị nha khoa…).
- Thay đổi hormon: khởi phát liên quan đến chu kỳ kinh, bệnh cải thiện khi mang thai.
- Thuốc: NSAID, phenobarbital, nicorandil…
- Thức ăn: socola, cà phê, dâu tây, phomai, ngũ cốc, hạnh nhân….
- Thiếu dinh dưỡng: thiếu máu thiếu sắt, vitamin nhóm B (B1, B2, B6).
- Stress là một nguyên nhân quan trọng, bệnh thường gặp vào thời điểm gặp căng thẳng.
- Yếu tố gia đình: một số báo cáo cho thấy loét áp có yếu tố gia đình, loét áp xuất hiện sớm hơn và mức độ nặng hơn ở những người có yếu tố gia đình.
- Liên quan đến vi khuẩn như liên cầu, HP, hoặc virus như EBV, CMV.
- Rối loạn miễn dịch: tế bào lympho chiếm ưu thế trong các tổn thương loét áp, ngoài ra còn vai trò của TNF-α trong hình thành vết loét (cơ chế điều trị bằng nhữngthuốc kháng TNF-α như thalidomid, pentoxifyllin)
Biểu hiện của loét áp như thế nào ?
Biểu hiện là những vết loét riêng rẽ, hình tròn hoặc hình oval, xung quanh có quầng đỏ, đáy vết loét có giả mạc màu vàng hoặc xám trắng, rất đau. Khởi đầu là quầng viêm đỏ, sau đó xuất hiện vết loét, hoại tử có giả mạc trắng, vàng trên nền viêm đỏ ranh giới rõ.
Thường gặp ở những vị trí bị sang chấn lặp đi lặp lại như niêm mạc mặt trong môi, lợi, lưỡi (niêm mạc không sừng hóa),... Số lượng, kích thước khác nhau, có thể 1 hoặc nhiều tổn thương.
Loét áp được chia thành ba loại:
- Loét áp nhỏ tái phát (80%): Đây là thể thường gặp nhất có kích thước dưới 10mm, tự khỏi trong 1-2 tuần, không để sẹo
- Loét áp lớn có kích thước lớn: Thường lớn hơn 10 mm, sâu hơn, thời gian lành lâu hơn (vài tuần), có thể để lại sẹo
- Loét dạng herpes: Nhiều vết loét nhỏ li ti mọc thành cụm, dễ nhầm với herpes miệng dù không phải do virus herpes gây ra
Chẩn đoán như thế nào?
Loét áp thường được chẩn đoán bằng lâm sàng. Các xét nghiệm thường không cần thiết, nhưng cân nhắc thực hiện nếu tái phát nhiều lần hoặc bệnh nghiêm trọng hoặc loét áp tơ phức tạp.
Loét áp chủ yếu được chẩn đoán lâm sàng, dựa vào bệnh sử và quan sát trực tiếp tổn thương:
- Vết loét hình tròn/bầu dục, bờ viền đỏ rõ, đáy phủ giả mạc trắng xám hoặc vàng nhạt
- Vị trí ở niêm mạc không sừng hóa: môi trong, má trong, sàn miệng, mặt dưới lưỡi (khác với tổn thương do Herpes thường ở niêm mạc sừng hóa như nướu, vòm miệng cứng)
- Đau nhiều, đặc biệt khi ăn đồ chua, cay, hoặc chạm vào
- Tính chất tái phát nhiều lần
Xét nghiệm thường không cần thiết với các ca điển hình, nhẹ. Tuy nhiên bác sĩ có thể chỉ định thêm khi nghi ngờ nguyên nhân nền hoặc tổn thương không điển hình:
Phương pháp xét nghiệm máu hỗ trợ chẩn đoán loét áp
- Xét nghiệm máu: công thức máu, sắt, vitamin B12, acid folic (tìm thiếu máu/thiếu vi chất)
- Xét nghiệm tầm soát bệnh lý tiêu hóa (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, Celiac) nếu tái phát dày đặc kèm triệu chứng tiêu hóa
- Sinh thiết nếu vết loét kéo dài bất thường (trên 3 tuần không lành), nghi ngờ ác tính hoặc không đáp ứng điều trị thông thường
Chẩn đoán phân biệt
- Herpes miệng (HSV): mụn nước nhỏ mọc cụm trước khi vỡ thành loét, xuất hiện ở niêm mạc sừng hóa (nướu, vòm miệng), thường kèm sốt, nổi hạch, đặc biệt ở đợt nhiễm nguyên phát
- Lichen phẳng niêm mạc miệng: tổn thương dạng mạng lưới trắng (vân Wickham), có thể kèm loét
- Bệnh Behçet: loét áp-tơ tái phát kèm loét sinh dục, tổn thương mắt, cần nghĩ đến nếu loét miệng tái phát kèm các dấu hiệu toàn thân này
Điều trị loét áp như thế nào ?
Mục tiêu điều trị chủ yếu là giảm đau, rút ngắn thời gian lành và hạn chế tái phát, vì phần lớn trường hợp nhẹ sẽ tự khỏi sau 7-14 ngày.
1. Điều trị tại chỗ (ưu tiên hàng đầu cho thể nhẹ)
Điều trị tại chỗ giúp giảm viêm, kiểm soát đau
- Thuốc bôi/gel chứa corticosteroid tại chỗ (như triamcinolone) giúp giảm viêm, giảm đau
- Nước súc miệng sát khuẩn (chlorhexidine) giúp hạn chế bội nhiễm
- Gel/thuốc bôi chứa chất gây tê tại chỗ (lidocaine, benzocaine) giảm đau khi ăn uống
- Một số chế phẩm bảo vệ niêm mạc giúp giảm kích ứng khi ăn
2. Điều trị toàn thân (cho thể nặng, tái phát nhiều, không đáp ứng điều trị tại chỗ)
- Corticosteroid đường uống trong đợt ngắn với các ca loét lớn, đau nhiều
- Colchicine hoặc các thuốc điều hòa miễn dịch khác trong một số trường hợp tái phát dai dẳng, theo chỉ định chuyên khoa
- Bổ sung vi chất nếu xét nghiệm phát hiện thiếu sắt, vitamin B12, acid folic
3. Điều chỉnh yếu tố nguy cơ
- Tránh thực phẩm cay, nóng, chua, cứng gây kích ứng niêm mạc
- Hạn chế chấn thương niêm mạc miệng (đánh răng nhẹ nhàng, dùng bàn chải lông mềm)
- Giảm stress, ngủ đủ giấc
- Nếu tái phát liên quan chu kỳ kinh nguyệt, có thể cần trao đổi thêm với bác sĩ về yếu tố nội tiết
Tiến triển của loét áp như thế nào ?
Hầu hết các vết loét áp nhỏ sẽ lành trong vòng 1–2 tuần mà không để lại sẹo mà không cần điều trị. Các vết loét áp tơ nhỏ thường tái phát không liên tục. Loét áp tơ lớn lành và để lại sẹo.
Loét áp thường không có biến chứng nhưng nó có thể gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
>>> Loét áp-tơ thường không nguy hiểm và có thể tự lành sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, các vết loét kéo dài, tái phát thường xuyên, có kích thước lớn hoặc đi kèm triệu chứng bất thường cần được thăm khám để loại trừ nguyên nhân khác. Xác định đúng yếu tố gây bệnh và chăm sóc tổn thương phù hợp giúp giảm đau, rút ngắn thời gian lành và hạn chế loét tái phát.
*Bài viết được biên tập bởi đội ngũ bác sĩ Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa Phương Đông