Viêm mống mắt thể mi là tình trạng viêm mống mắt và thể mi, nằm phía sau mống mắt trong nhãn cầu. Bệnh khởi phát bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do chấn thương, nhiễm trùng, bệnh lý toàn thân hoặc tác dụng phụ của thuốc. Bệnh nhân cần thăm khám, chẩn đoán tại cơ sở y tế chuyên môn, đảm bảo việc điều trị đạt mục tiêu về bảo vệ sức khoẻ thị giác.
Viêm mống mắt thể mi là gì?
Viêm mống mắt thể mi (còn gọi viêm màng bồ đào trước) là tình trạng mống mắt và thể mi bị viêm cấp tính hoặc mạn tính. Bệnh gây nên bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng may mắn đa số trường hợp đều có thể điều trị được.

Hình ảnh mắt người bệnh bị viêm mống mắt thể mi
Điều trị viêm màng bồ đào trước cần được xem xét, đánh giá dựa trên vị trí viêm, thời gian cùng các triệu chứng lâm sàng đi kèm. Can thiệp chính xác theo tác nhân gây bệnh giúp chức năng thị giác được bảo toàn, hạn chế nguy cơ tái phát hoặc suy giảm thị lực về sau.
Nguyên nhân viêm mống mắt thể mi
Dựa trên cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân gây viêm mống mắt thể mi thường được chia thành 3 nhóm chính. Bao gồm không do nhiễm trùng, nhiễm trùng và khác. Xác định đúng căn nguyên vấn đề giúp bác sĩ có hướng điều trị phù hợp bảo toàn chức năng thị giác, hạn chế nguy cơ tái phát.
Nhóm không do nhiễm trùng
Nguyên nhân không do nhiễm trùng là nhóm gây viêm mống mắt thể mi phổ biến nhất, dễ tái phát hoặc diễn tiến mạn tính ở người trẻ và trung niên. Cơ thể tác động chủ yếu liên quan đến rối loạn miễn dịch, khiến hệ miễn dịch tấn công nhầm các cấu trúc bình thường của mắt.
Những bệnh lý thường gặp bao gồm:
- Hội chứng HLA-B27 như viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vảy nến, viêm ruột mạn tính chiếm 50% tổng số ca viêm màng bồ đào trước cấp tính hoặc tái phát. Bệnh thường khởi phát đột ngột, gây viêm và ảnh hưởng đến một bên mắt.
- Viêm khớp thiếu niên tự phát thường xảy ra âm thầm ở trẻ nhỏ, tuy không biểu hiện rõ ràng nhưng khi khởi phát có thể ảnh hưởng đến cả hai bên mắt, chuyển thành mạn tính hoặc xuất hiện biến chứng nguy hiểm.
- Sarcoidosis gây viêm mống mắt thể mi dạng hạt, đặc trưng với các nốt nhỏ ở mống mắt và lắng đọng viêm dạng mỡ cừu trên nội mô giác mạc.
- Lupus ban đỏ hệ thống thường gây bệnh kèm viêm củng mạc, viêm màng bồ đào sau, khiến tình trạng viêm lan rộng.
- Bệnh Behcet có thể xuất hiện đồng thời viêm màng mạch, viêm mạch võng mạc, biểu hiện đặc trưng với viêm mống mắt thể mi không hạt, kèm tụ mủ tiền phòng.
- Hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada thường ảnh hưởng cả hai bên mắt, gây viêm mống mắt thể mi dạng hạt kèm các tổn thương sắc tố ngoài nhãn cầu như tóc, tai và da.

Viêm khớp thiếu niên tự phát ở trẻ em có thể trở thành nguyên nhân gây viêm màng bồ đào trước
Nhóm do nhiễm trùng
Với nhóm nguyên nhân do nhiễm trùng, viêm màng bồ đào trước khởi phát bởi ba nhóm tác nhân chính:
- Virus là nhóm gây bệnh phổ biến nhất, bao gồm Herpes Simplex, Varicella Zoster, Cytomegalovirus, Epstein-barr virus, HIV.
- Vi khuẩn, xoắn khuẩn như giang mai, lao, Bartonella Henselae, Lyme.
- Ký sinh trùng như Toxoplasma Gondii, Toxocara Canis/Cati.
Nguyên nhân khác
Một số trường hợp viêm mống mắt thể mi được xác định thuộc nhóm hội chứng giả viêm. Nguyên nhân gây viêm mạn tính, không đáp ứng điều trị thông thường có thể do các bệnh lý ác tính như lymphoma nội nhãn, u hắc tố ác tính hoặc bệnh bạch cầu.
Một số loại thuốc như điều trị lao, thuốc ức chế yếu tố hoại tử khối u TNF-alpha có thể gây tình trạng viêm màng bồ đào trước. Một số trường hợp còn xuất hiện kèm theo một số vấn đề khác như mủ tiền phòng, hạ nhãn áp.
Dấu hiệu nhận biết
Viêm màng bồ đào trước thường gây những triệu chứng cấp tính ở một bên mắt, có thể nhận diện thông qua tình trạng:
- Mắt đỏ, vùng quanh hốc mắt đau âm ỉ, một số trường hợp lan rộng ra trán hoặc thái dương.
- Bệnh nhân nhạy cảm với ánh sáng, chảy nước mắt.
- Thị lực bị giảm từ nhẹ đến trung bình.
- Không xuất tiết nhầy mủ, có thể dựa vào để phân biệt với viêm kết mạc.

Những dấu hiệu nhận biết viêm màng bồ đào trước
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bệnh đều có biểu hiện rõ ràng ngay từ giai đoạn đầu. Một số bệnh nhân chỉ vô tình phát hiện khi thăm khám sức khỏe y tế định kỳ, được kiểm tra và đánh giá chuyên sâu bởi bác sĩ Nhãn khoa.
Nguy cơ biến chứng tiềm ẩn
Viêm mống mắt thể mi nếu không được chẩn đoán, điều trị đúng cách có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng, tác động lâu dài đến sức khỏe thị giác. Điển hình như:
- Đục thủy tinh thể: Viêm mống mắt kéo dài có thể làm xước, để lại sẹo và khiến mống mắt dính vào thủy tinh thể. Điều này phá vỡ cấu trúc giải phẫu ban đầu của đồng tử, hình dạng bất thường làm mắt chậm phản ứng với ánh sáng.
- Tăng nhãn áp: Biến chứng này thường gặp ở những trường hợp bệnh tái phát nhiều lần, khiến thần kinh thị giác bị tổn thương và khó hồi phục trạng thái ban đầu.
- Sạn vôi: Sự lắng đọng canxi ở giác mạc làm tăng nguy cơ viêm mạn tính, đẩy nhanh quá trình lão hóa mắt, từ đó làm suy yếu thị giác.
- Rách võng mạc: Phản ứng viêm mống mắt có nguy cơ tích tụ dịch tại võng mạc, đặc biệt vùng hoàng điểm. Đây là một biến chứng nặng, khiến thị lực trung tâm sụt giảm kèm các tổn thương nghiêm trọng khác.

Viêm mống mắt thể mi không được kiểm soát tốt có thể dẫn đến đục thuỷ tinh thể, tăng nhãn áp
Bệnh lý này có xu hướng tái phát nếu không được điều trị đúng phác đồ, dứt điểm theo chỉ định y tế. Bệnh nhân liên hệ 1900 1806 hoặc Đặt lịch khám để nhận tư vấn với bác sĩ Chuyên khoa Mắt - Bệnh viện Phương Đông, đảm bảo thị lực được bảo tồn và giảm ngừa nguy cơ biến chứng.
Điều trị viêm mống mắt thể mi
Kiểm soát phản ứng viêm, giảm đau, ngừa nguy cơ dính mống mắt hay hạn chế biến chứng là mục tiêu tiên quyết khi điều trị viêm màng bồ đào. Để kết quả can thiệp đạt hiệu quả ưu việt nhất, bệnh nhân cần được tác động đúng nguyên nhân và mức độ tổn thương.
Điều trị không dùng thuốc
Hướng can thiệp không dùng thuốc thường tập trung các biện pháp giảm nhẹ tại nhà như chườm ấm, đeo kính râm khi ra ngoài. Dành thời gian nghỉ ngơi, hạn chế tiếp xúc hoặc nhìn trực tiếp vào nguồn sáng mạnh khiến mắt trở nên khó chịu hơn.
Điều trị dùng thuốc
Với liệu trình dùng thuốc, bác sĩ cần đánh giá tác nhân liên quan đến nhiễm trùng hay không do nhiễm trùng để có chỉ định phù hợp. Cụ thể:
- Corticoid tại chỗ: Bác sĩ thường kê đơn Prednisolone acetate 1% với trường hợp viêm không do nhiễm trùng. Bệnh nhân viêm nhẹ chỉ cần nhỏ 4 lần/ngày, ca bệnh viêm nặng xem xét dùng mỗi giờ.
- Thuốc giãn đồng tử: Homatropine, Cyclopentolate, Phenylephrine 2.5% hoặc 10%.
- Corticoid đường uống hoặc tĩnh mạch: Kê đơn với những trường hợp viêm nặng, không đáp ứng điều trị tại chỗ, viêm cả hai mắt, phù hoàng điểm hoặc tổn thương hoàng điểm.

Điều trị tình trạng viêm bằng thuốc corticoid tại chỗ, giãn đồng tử hoặc corticoid toàn thân
Điều trị theo nguyên nhân nhiễm trùng
Trong tình huống xác định nguyên nhân gây bệnh liên quan đến yếu tố nhiễm trùng, hướng điều trị về cơ bản như sau:
- Herpes Simplex/Zona thần kinh: Sử dụng corticoid tra mắt kết hợp Acyclovir đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
- CMV: Tuỳ khả năng miễn dịch của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng Ganciclovir, Foscarnet, Vaganciclovir.
- Giang mai: Kê đơn Ceftriaxone hoặc Penicillin G, trường hợp nếu cần có thể dùng thêm corticoid.
- Toxoplasma: Liệu trình dùng đơn thuốc Acid folinic, Sulfadiazine, Pyrimethamine.
- Toxocara: Kết hợp sử dụng Albendazole với Corticoid.
Liệu pháp ức chế miễn dịch
Liệu áp ức chế miễn dịch được xem xét áp dụng với ca bệnh không đáp ứng corticoid, không thể giảm liều prednisone 10g/ngày sau 3 tháng hoặc viêm mạn tính đe doạ tổn thương thị lực. Những loại thuốc được sử dụng bao gồm:
- Thường dùng: Methotrexate liều 25mg/tuần, Mycophenolate 2 - 3g/ngày, Azathioprine (nhưng ít sử dụng do tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ).
- Thuốc sinh học: Adalimumab, Inflixmab.
- Khác: Tacrolimus, Cyclosporin, Rituximab, Tocilizumab chủ yếu được sử dụng khi bệnh nhân không cải thiện tình trạng sau khi áp dụng phác đồ ban đầu.

Áp dụng liệu pháp ức chế miễn dịch với trường hợp viêm mạn tính nguy cơ tổn thương thị lực
Can thiệp đặc hiệu
Hai liệu pháp can thiệp đặc hiệu với viêm màng bồ đào trước được cân nhắc áp dụng, căn cứ dựa theo tình trạng thực tế của người bệnh. cụ thể:
- Tiêm corticoid dưới Tenon, tiêm nội nhãn với trường hợp viêm kèm theo phù hoàng điểm, hoặc không đáp ứng điều trị tại chỗ.
- Cấy ghép corticoid nội nhãn, hiệu quả điều trị duy trì lên tới 2,5 năm nhưng cần cân nhắc, do tiềm ẩn nguy cơ gây cườm nước và cườm khô.
Phòng ngừa viêm mống mắt thể mi
Viêm mống mắt thể mi rất khó để phòng ngừa tuyệt đối, do nhiều trường hợp không thể xác định được cụ thể nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên việc chủ động kiểm soát các yếu tố nguy cơ, xây dựng hàng rào miễn dịch khỏe mạnh đóng góp đáng kể vào công tác giảm ngừa nguy cơ khởi phát và tái phát bệnh.

Phòng ngừa bệnh khởi phát thông qua thói quen sinh hoạt lành mạnh thường ngày
Những bệnh nhân mắc bệnh nền, bệnh lý mạn tính cần chủ động tuân thủ hướng dẫn y tế chuyên môn. Đồng thời sắp xếp thời gian thăm khám sức khỏe mắt định kỳ, ngay cả khi không có triệu chứng bất thường, giúp phát hiện và điều trị sớm từ giai đoạn đầu.
Kết luận
Tiên lượng đáp ứng điều trị của viêm mống mắt thể mi được đánh giá cao, hoàn toàn có thể được kiểm soát hiệu quả bằng các biện pháp chăm sóc tại nhà và thuốc đặc hiệu. Bệnh nhân ngay khi nhận thấy biểu hiện bất thường về sức khỏe thị giác, cần nhanh chóng thăm khám và nhận chỉ định điều trị từ bác sĩ chuyên khoa.