Rối loạn ăn uống: Báo động đỏ với chứng ăn kiêng cực đoan, cuồng ăn!

Ngọc Anh

16-07-2026

goole news
16

Trong khi cả xã hội đang chạy theo những số đo nhất định để được coi là sở hữu thân hình “chuẩn”, thu hút thì tại bệnh viện, các bác sĩ đã tiếp nhận không ít trường hợp mắc rối loạn ăn uống. Có những em nhỏ mới lớn tự bỏ đói bản thân để “giảm cân”, tin rằng mình béo dù cơ thể vốn đã gầy gò. Cũng có những người trưởng thành ăn một lượng thức ăn quá lớn rồi tự nôn mửa, móc họng để loại bỏ thức ăn vừa nạp vào cơ thể, sau cùng phải nhập viện do mất cân bằng điện giải, trào ngược dạ dày.

Rối loạn ăn uống là bệnh gì?

Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, rối loạn ăn uống là một nhóm các rối loạn tâm thần liên quan đến hành vi ăn uống, suy nghĩ và cảm xúc. Bệnh có thể bao gồm nhiều dạng khác nhau như chán ăn tâm thần, chứng cuồng ăn, rối loạn ăn uống vô độ, rối loạn ăn uống hạn chế né tránh, ăn vật lạ và rối loạn nhai lại.

Người mắc rối loạn ăn uống có xu hướng chú trọng quá mức đến cân nặng, vóc dáng hoặc lượng thức ăn nạp vào cơ thể. Tuy vậy, họ lại không kiểm soát được thói quen ăn uống, thường xuyên ăn quá nhiều hoặc ăn quá ít. Sau mỗi lần như vậy, người bệnh có thể cảm thấy xấu hổ về hành vi ăn uống bất thường của mình và bắt đầu thực hiện các hành động cực đoan như tự móc họng để nôn, uống thuốc nhuận tràng quá liều hoặc tập thể dục quá mức để loại bỏ lượng thức ăn đã nạp vào cơ thể.

Trong những lần tiếp theo, người bệnh lại không kiểm soát được bản thân, tiếp tục ăn quá nhiều và mọi việc diễn ra theo vòng lặp cũ. Các bác sĩ Trung tâm Chăm sóc sức khỏe Tinh thần Phương Đông cho hay, rối loạn ăn uống tâm thần không xuất hiện riêng lẻ mà thường đi kèm với các rối loạn tâm thần khác như rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế hoặc rối loạn sử dụng rượu và chất gây nghiện.

Ăn quá nhiều, quá ít... đều có thể là biểu hiện của rối loạn hành vi ăn uống.

Ăn quá nhiều, quá ít... đều có thể là biểu hiện của rối loạn hành vi ăn uống.

Các hình thức của rối loạn ăn uống

Dựa vào biểu hiện, nguyên nhân và biến chứng, các bác sĩ và nhà nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đã chia rối loạn ăn uống thành các hình thức dưới đây:

Hình thức 

Đặc điểm chính

Dấu hiệu

Nguy cơ, biến chứng

Chán ăn tâm thần (Anorexia nervosa)

Người bệnh sợ tăng cân quá mức, lo lắng về vóc dáng và hạn chế ăn uống cực đoan, dẫn đến cân nặng thấp so với tuổi và chiều cao.

• Ăn kiêng quá mức, hạn chế một cách cực đoan lượng thức ăn.

• Tập thể dục quá sức để kiểm soát cân nặng.

• Ăn uống vô độ, nôn mửa hoặc uống quá nhiều thuốc nhuận tràng.

• Ngừng kinh, chóng mặt, ngất xỉu, không chịu được lạnh.

• Yếu và teo cơ, táo bón, đầy hơi, đau bụng, buồn nôn.

• Trầm cảm, lo âu, khó tập trung.

Suy dinh dưỡng, Mất cân bằng điện giải, rối loạn nhịp tim, loãng xương, gãy xương do căng thẳng, rách thực quản hoặc dạ dày. Trường hợp nặng có thể dẫn đến ngừng tim đột ngột và đe dọa tính mạng.

Chứng cuồng ăn (Bulimia nervosa)

Người bệnh thường xuyên có các cơn ăn uống vô độ, mất kiểm soát, sau đó thực hiện các hành vi bù trừ để ngăn tăng cân.

• Ăn nhanh và ăn một lượng lớn thức ăn trong thời gian ngắn.

• Tự gây nôn, nhịn ăn hoặc tập thể dục quá sức sau khi ăn.

• Lạm dụng thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu hoặc các sản phẩm giảm cân.

• Thường xuyên đi vệ sinh ngay sau bữa ăn.

• Viêm họng, sưng tuyến nước bọt, sâu răng, ợ nóng và trào ngược dạ dày thực quản.

• Chóng mặt, ngất xỉu hoặc xuất hiện vết chai, vết cắt ở khớp ngón tay.

Mất nước và mất cân bằng điện giải, rối loạn nhịp tim, tổn thương men răng, trào ngược dạ dày thực quản

Rối loạn ăn uống vô độ (Binge-eating disorder)

Người bệnh thường xuyên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn và cảm thấy mất kiểm soát nhưng không có hành vi bù trừ như nôn mửa, nhịn ăn hay tập thể dục quá mức.

• Ăn nhanh hơn bình thường.

• Ăn đến mức chướng bụng, buồn nôn

• Ăn nhiều dù không cảm thấy đói.

• Cảm thấy xấu hổ, chán ghét bản thân hoặc tội lỗi sau khi ăn uống quá độ.

Béo phì, hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp và các bệnh tim mạch.

Rối loạn ăn uống hạn chế né tránh (ARFID)

Người bệnh hạn chế hoặc tránh một số loại thực phẩm, ăn uống rất kén chọn và không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng.

• Chán ăn, không hứng thú với việc ăn uống dù đói hay no.

• Nhạy cảm với kết cấu, màu sắc, hình thức hoặc mùi thực phẩm.

• Sợ bị nghẹn, buồn nôn, nôn mửa, táo bón hoặc dị ứng.

• Có thể giảm cân hoặc không đạt mức tăng cân như mong đợi ở trẻ em.

Thiếu hụt dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, giảm cân

Một số trường hợp cần sử dụng ống thông hoặc truyền dịch dinh dưỡng. Bệnh nhân bị ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng giao tiếp xã hội.

Pica

Người bệnh liên tục ăn những chất không phải thực phẩm và không có giá trị dinh dưỡng trong thời gian kéo dài.

• Ăn những thứ không phải đồ ăn như giấy, xà phòng, vải, tóc, phấn, kim loại, sỏi hoặc đất sét.

• Hành vi này kéo dài ít nhất 1 tháng

Có nguy cơ tắc nghẽn đường ruột hoặc ngộ độc do các chất đã ăn vào

Rối loạn nhai lại

Thức ăn đã nuốt được đưa trở lại miệng nhiều lần sau khi ăn, sau đó được nhai lại, nuốt hoặc nhổ ra.

• Thức ăn được đưa trở lại miệng sau khi đã nuốt.

• Người bệnh nhai lại rồi nuốt hoặc nhổ thức ăn ra.

• Hành vi xảy ra lặp đi lặp lại trong ít nhất 1 tháng, không liên quan đến bệnh lý đường tiêu hóa hoặc một rối loạn ăn uống khác.

Cảm giác mệt mỏi, mất sức và thậm chí là suy dinh dưỡng nếu kéo dài.

Rối loạn ăn uống khác 

Bao gồm các rối loạn hành vi ăn uống gây đau khổ hoặc ảnh hưởng đến chức năng gia đình, xã hội, công việc nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí của các nhóm rối loạn ăn uống khác.

• Biểu hiện đa dạng tùy từng trường hợp.

• Có thể có hành vi và nỗi ám ảnh về cân nặng, hình dáng tương tự chán ăn tâm thần

.• Có thể giảm cân nhanh hoặc áp dụng các hành vi kiểm soát cân nặng cực đoan dù cơ thể cân đối.

Một số vấn đề sức khoẻ khác

Triệu chứng cảnh báo chứng rối loạn ăn uống

Biểu hiện của bệnh lý này có xu hướng khác nhau tùy từng hình thức bệnh. Tuy nhiên, nếu các dấu hiệu dưới đây xuất hiện cùng lúc, bạn nên cảnh giác:

  • Thay đổi thói quen ăn uống
    • Không ăn các món ăn yêu thích trước đây 
    • Tránh các món ăn nhiều tinh bột
    • Tính toán chi li, kiểm soát đến mức cực đoan các thành phần trong bữa ăn
  • Có hành vi bất thường trong sinh hoạt 
    • Phải tập thể dục rồi mới có cảm giác “xứng đáng” được ăn
    • Cảm thấy lo lắng, tội lỗi tột độ nếu không tập thể dục sau/ trước khi ăn 
    • Tập luyện quá sức
    • Không ăn trước mặt người khác
    • Đi vệ sinh ngay sau khi ăn
    • Mặc quần áo rộng thùng thình
  • Dễ cáu gắt, lo lắng quá nhiều, lo lắng mà không rõ nguyên nhân
  • Các biểu hiện khác: dễ ngất xỉu hay chóng mặt, mất kinh nguyệt (ở nữ giới), sụt cân không rõ nguyên nhân, đau bụng, buồn nôn,...

Nguyên nhân dẫn đến chứng rối loạn ăn uống

Nguyên nhân chính gây ra bệnh lý này vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, rối loạn ăn uống hiếm khi xuất hiện riêng lẻ mà thường đi kèm với các bệnh lý tâm thần khác. Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa hội chứng này với các nhóm yếu tố sau:

  • Yếu tố di truyền: Người có cha mẹ, anh chị em ruột hoặc thành viên trong gia đình từng mắc rối loạn ăn uống có nguy cơ cao hơn.
  • Yếu tố tâm lý: Không ít bệnh nhân có cảm nhận tiêu cực về bản thân, tự ti về năng lực và không công nhận những thành tựu mình đã đạt được.
  • Ảnh hưởng từ áp lực xã hội: Quan niệm coi vóc dáng mảnh mai là tiêu chuẩn của vẻ đẹp, thành công hoặc sự hấp dẫn có thể khiến một số người quá chú trọng đến cân nặng và hình dáng cơ thể.
  • Ăn kiêng trong thời gian dài: Việc thường xuyên hạn chế nghiêm ngặt lượng calo hoặc cắt bỏ nhiều loại thực phẩm có thể làm tăng cảm giác thèm ăn, dẫn đến hành vi ăn uống mất kiểm soát.
  • Căng thẳng và những thay đổi trong cuộc sống: Stress kéo dài, thay đổi môi trường sống, bắt đầu công việc mới, các vấn đề trong gia đình hoặc các mối quan hệ có thể góp phần khởi phát hoặc làm nặng thêm các hành vi ăn uống bất thường.

Căng thẳng, stress cũng có thể trở thành nhân tố thúc đẩy hành vi rối loạn ăn uống 

Căng thẳng, stress cũng có thể trở thành nhân tố thúc đẩy hành vi rối loạn ăn uống 

Ai dễ bị rối loạn ăn uống?

Đây là bệnh lý có thể bắt gặp ở bất kỳ ai, không phân biệt giới tính, độ tuổi hay cân nặng. Tuy nhiên, tình trạng này thường được ghi nhận nhiều hơn ở các trường hợp sau:

  • Người có tiền sử gia đình mắc rối loạn ăn uống.
  • Bệnh nhân từng mắc trầm cảm, rối loạn lo âu hoặc các vấn đề sức khỏe tâm thần khác.
  • Người thường xuyên ăn kiêng hoặc chịu áp lực lớn về cân nặng, vóc dáng.
  • Người trải qua stress kéo dài hoặc gặp những biến cố trong cuộc sống nhưng không vượt qua được.
  • Vận động viên, diễn viên hoặc những người làm việc trong môi trường thường xuyên chú trọng đến hình thể.

Rối loạn ăn uống tâm thần có nguy hiểm không?

So với các bệnh lý thực thể khác, nhóm bệnh lý tâm thần không chỉ gây ra các nguy cơ về mặt thể chất mà còn gây nhiều bất ổn trong đời sống tinh thần như trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hoặc các vấn đề liên quan đến sử dụng chất gây nghiện.

Người bệnh cũng có xu hướng sống khép kín, thu mình, khó hòa nhập và gặp khó khăn trong việc kết bạn, nắm bắt các cơ hội trong học tập, công việc cũng như các mối quan hệ xã hội.

Một số trường hợp nặng có thể xuất hiện ý nghĩ hoặc hành vi tự sát. Vì vậy, các bác sĩ của Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ tinh thần Phương Đông khuyến cáo, ăn uống vô độ và chứng cuồng ăn không đơn thuần là vấn đề về thói quen ăn uống mà là bệnh lý có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của người bệnh. Do đó, người bệnh cần chủ động thăm khám và điều trị càng sớm càng tốt.

Điều trị chứng rối loạn ăn uống như thế nào?

Để điều trị rối loạn ăn uống, các bác sĩ tâm thần thường tập trung vào ba hướng chính, bao gồm trị liệu tâm lý, sử dụng thuốc và thay đổi lối sống.

Mục tiêu điều trị là giúp người bệnh điều chỉnh hành vi ăn uống, thay đổi những suy nghĩ tiêu cực về thức ăn và hình dáng cơ thể, đồng thời xử lý các vấn đề sức khỏe thể chất hoặc tâm thần đi kèm.

Liệu pháp tâm lý

Do rối loạn ăn uống thường liên quan đến các vấn đề tâm lý khác, để hỗ trợ người bệnh kiểm soát hành vi ăn uống, các bác sĩ cần nhận diện những suy nghĩ và cảm xúc liên quan đến hành vi ăn uống. Từ đó, người bệnh từng bước thay thế các thói quen không lành mạnh bằng những hành vi phù hợp hơn.

Các liệu pháp có thể được áp dụng cho bệnh nhân bao gồm:

  • Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT): Hỗ trợ người bệnh nhận diện và thay đổi những suy nghĩ tiêu cực về thức ăn, cân nặng và hình dáng cơ thể.
  • Liệu pháp dựa trên gia đình (FBT): Tùy từng trường hợp, liệu pháp này thường được triển khai cho trẻ em và thanh thiếu niên cần sự hỗ trợ của gia đình trong quá trình điều trị.

Người bệnh có thể phải kết hợp các liệu pháp tâm lý để điều trị rối loạn tâm thần này 

Người bệnh có thể phải kết hợp các liệu pháp tâm lý để điều trị rối loạn tâm thần này 

Sử dụng thuốc

Nếu các triệu chứng ăn uống vô độ hoặc chứng cuồng ăn đi kèm với các rối loạn tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu, bác sĩ có thể kê thuốc cho người bệnh. Một số loại thuốc có thể được sử dụng bao gồm thuốc chống trầm cảm hoặc các thuốc có tác dụng hỗ trợ giảm các cơn ăn uống vô độ.

Tuy nhiên, do thuốc điều trị các bệnh lý tâm thần có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh và não bộ, người bệnh không được tự ý mua hoặc sử dụng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Có thể nói, rối loạn ăn uống là một bệnh tâm thần không đơn giản, có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng về sức khỏe và làm đảo lộn cuộc sống của người bệnh. Tương tự như các vấn đề sức khỏe tâm thần khác, đây là bệnh lý cần được thăm khám và điều trị đúng cách.

Khi được thăm khám với bác sĩ tâm thần và trị liệu cùng chuyên gia tâm lý kịp thời, người bệnh có nhiều cơ hội kiểm soát bệnh lý và từng bước trở lại cuộc sống bình thường.

9

Bài viết hữu ích?

Đăng ký nhận tư vấn

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách để được nhận tư vấn

ThS.BSNT

NGUYỄN ĐÌNH NAM

Phó Giám đốc Trung tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần

ThS.BSNT

NGUYỄN ĐÌNH NAM

Phó Giám đốc Trung tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần
19001806 Đặt lịch khám