Sụp mí mắt là tình trạng phổ biến, có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào, từ trẻ sơ sinh đến người lớn tuổi. Mí mắt bị sa xuống không chỉ ảnh hưởng đến vẻ ngoài mà còn cản trở tầm nhìn, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh hoạt và công việc của người bệnh.
Sụp mí mắt là tình trạng phổ biến, có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào, từ trẻ sơ sinh đến người lớn tuổi. Mí mắt bị sa xuống không chỉ ảnh hưởng đến vẻ ngoài mà còn cản trở tầm nhìn, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh hoạt và công việc của người bệnh.
Sụp mí mắt (Ptosis) là tình trạng mí mắt trên chảy xệ quá mức, làm mép mí mắt thấp hơn mức bình thường. Tình trạng này có thể xảy ra ở một hoặc cả hai mắt, ảnh hưởng đến tầm nhìn và ngoại hình. Người bị sụp mí mắt thường phải ngửa đầu ra sau, nâng cằm hoặc nhướng mày để mở mắt, lâu dần có thể gây mỏi cổ và các vấn đề về đầu.
Đối với trẻ em, sụp mí mắt có thể dẫn đến nhược thị (mắt lười) hoặc các tật khúc xạ nếu không được điều trị kịp thời. Ở người lớn, mí mắt chảy xệ không chỉ làm giảm tính thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến chất lượng thị lực.
Mắt bị sụp mí làm ảnh hưởng xấu đến ngoại hình và thị lực của người bệnh
Đây là bệnh lý khả phổ biến. Trong một nghiên cứu về bệnh mắt ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ bệnh bẩm sinh ở mí chiếm đến 1,8%, cao hơn lác chỉ chiếm 0,52 %. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng tỷ lệ sụp mí phụ thuộc vào nghiên cứu và quần thể dân số nhưng thường dao động ở mức 0.18% đến 1.41%, với tỷ lệ 0.79 đến 1.99 trên 10000 người.
Nguyên nhân gây sụp mí mắt rất đa dạng, từ bẩm sinh, bệnh lý, chấn thương đến các yếu tố lão hóa tự nhiên. Khi bị sụp mí, một số người sẽ nhận thấy rõ sự khác biệt ở mắt, nhưng cũng có trường hợp không cảm nhận được gì bất thường.
Một số loại thuốc có thể gây sụp mí như thuốc giãn cơ, botox, thuốc huyết áp, kháng sinh hay thuốc chống trầm cảm. Nếu nghi ngờ lý do gây sụp mí đến từ thuốc, bạn nên kiểm tra lại danh sách thuốc đang dùng và trao đổi với bác sĩ để xác định chính xác loại thuốc gây ảnh hưởng.
Điều quan trọng nhất là bạn không tự ý ngưng thuốc mà cần tham khảo ý kiến bác sĩ. Bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng sụp mí, xác định nguyên nhân và tư vấn các phương án điều trị phù hợp.
Chấn thương nghiêm trọng vùng mắt hoặc dây thần kinh có thể làm mí mắt sa xuống. Có thể kể đến như tai nạn, té ngã, va đập, phẫu thuật mắt thất bại, hoặc các rối loạn thần kinh như đột quỵ.
Một số trường hợp hiếm gặp như hội chứng Horner xảy ra khi dây thần kinh mắt bị tổn thương như khối u, chấn thương tủy sống, tổn thương não hoặc bất thường trong hạch bạch huyết. Đôi khi bạn bị sụp mí mà không tìm ra nguyên nhân cụ thể nào.
Ngoài ra, bệnh tiểu đường kéo dài và huyết áp cao cũng có thể làm tổn thương thần kinh, dẫn đến sụp mí.
Có khối u ở mắt có thể làm mí mắt người bệnh bị sụp xuống
Trong một số trường hợp, sụp mí cũng có thể là biến chứng của các bệnh lý như nhược cơ hoặc ung thư dây thần kinh hay đột quỵ
Nếu cả hai mí mắt đều bị sụp, đó có thể là dấu hiệu của bệnh lý tiềm ẩn. Trường hợp chỉ một bên mắt bị sụp, nguyên nhân thường là chấn thương dây thần kinh hoặc lẹo mắt tạm thời. Ngoài ra, tuổi tác và bệnh tiểu đường lâu dài cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ sụp mí mắt.
Ngoài các trường hợp kể trên, một số người sinh ra đã bị sụp mí, gọi là sụp mí bẩm sinh. Theo Bệnh viện Nhi Trung ương, khoảng 50–70% ca sụp mí là bẩm sinh. Nguyên nhân thường là bất thường ở cơ nâng mí hoặc giãn đoạn dẫn truyền thần kinh-cơ vùng mắt.
Sụp mí bẩm sinh có thể khiến trẻ bị mắt lé, hẹp khe mi, hoặc dị dạng sọ mặt, ảnh hưởng đến thị lực và tầm nhìn. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, trẻ có thể gặp các vấn đề về mắt lâu dài.
Theo các bác sĩ chuyên khoa, mí mắt được điều khiển bởi ba cơ chính, trong đó cơ nâng giữ vai trò quan trọng nhất. Do đón bất cứ tác động nào làm yếu hoặc tổn thương cơ này cũng có thể gây sụp mí có thể kể đến như sưng viêm cơ nâng, đau giác mạc hay bị côn trùng đốt
Tuổi tác cũng làm cơ nâng suy yếu, dẫn đến sụp mí aponeurotic, hay còn gọi là sụp mí không tiến triển, thường gặp ở người lớn tuổi. Thói quen dụi mắt thường xuyên cũng là một trong những nguyên nhân làm mí mắt chảy xệ theo thời gian.
Theo các bác sĩ chuyên khoa, dựa theo nguyên nhân và triệu chứng, chúng ta có thể chia các trường hợp sụp mí mắt thành: sụp mí bẩm sinh, sụp mí 1 bên và sụp mí mắc phải.
|
Phân loại |
Nội dung |
Nguyên nhân |
|
Sụp mí bẩm sinh |
Xuất hiện khi trẻ mới sinh hoặc trong những năm đầu đời. Thường xảy ra riêng lẻ, không liên quan đến các bệnh toàn thân. |
Một số trường hợp có thể xuất hiện sau vài ngày hoặc vài tuần, liên quan đến vấn đề hệ thần kinh hoặc thể chất, cần khám đánh giá. |
|
Sụp mí 1 bên |
Chỉ ảnh hưởng đến một mắt, có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Hiếm khi ảnh hưởng cả 2 mắt cùng lúc. |
Do chấn thương, tuổi tác, hoặc các rối loạn y tế khác. |
|
Sụp mí mắc phải |
Phát triển trong suốt đời người, gồm nhiều loại nhóm nhỏ: |
|
|
– Sụp mí do cơ (Myogenic) |
Cơ nâng mí yếu, làm mí mắt sụp xuống. |
Liên quan đến các bệnh loạn dưỡng cơ, liệt vận nhãn ngoài tiến triển mãn tính. |
|
– Sụp mí do cân cơ (Aponeurotic) |
Mí mắt sa xuống do cơ nâng căng quá mức. |
Thường do lão hóa; dụi mắt, kéo mí mắt quá mức, dùng kính áp tròng lâu dài. |
|
– Sụp mí do thần kinh (Neurogenic) |
Mí mắt sụp do đường dẫn thần kinh bị ảnh hưởng. |
Bệnh nhược cơ, liệt dây thần kinh số III, hội chứng Horner. |
|
– Sụp mí thần kinh cơ (Neuromuscular) |
Kết hợp giữa cơ và thần kinh bị ảnh hưởng. |
Các bệnh làm yếu cơ và thần kinh vận động mí mắt. |
|
– Sụp mí cơ học (Mechanic) |
Mí mắt bị đè nặng, gây sụp xuống. |
Do da thừa, khối u hoặc chấn thương mắt; làm suy yếu cơ nâng. |
Bị sụp mí có thể ảnh hưởng đến tầm nhìn của người bệnh, bao gồm cả trường hợp hạn chế một phần đến che khuất hoàn toàn. Tình trạng này có thể xuất hiện ở một hoặc cả hai mí mắt.
Bên cạnh đó, khi mắt sụp mí, người bệnh thường cố gắng điều chỉnh bằng cách ngửa cổ, nhướng mắt hoặc căng cơ trán để nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, nếu duy trì thói quen này lâu ngày, có thể hình thành các tật về cơ, đồng thời gây ảnh hưởng đến vùng đầu và cổ.
Ở trẻ em hoặc trường hợp bẩm sinh, nếu sụp mí không được điều trị kịp thời hoặc điều trị không hiệu quả, thị lực của trẻ có thể bị ảnh hưởng lâu dài. Với sụp mí mức độ nhẹ, khả năng ảnh hưởng đến thị lực còn thấp, nhưng khi sụp mí nặng, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như:
Mắt bị sụp mí có thể làm tăng nguy cơ người bệnh bị loạn thị
Để xác định tình trạng sụp mí mắt, bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng, kiểm tra mức độ sa xuống của mí mắt trên và so sánh với mắt còn lại. Nếu cả hai mắt đều bị ảnh hưởng, việc chẩn đoán có thể phức tạp hơn. Trong trường hợp này, bác sĩ có thể yêu cầu thêm một số xét nghiệm và kiểm tra chuyên sâu, bao gồm:
Sau khi hoàn tất các bước trên, bác sĩ sẽ đưa ra kết luận về tình trạng sụp mí, xác định nguyên nhân và đề xuất phương án điều trị phù hợp với từng người bệnh.
Nếu sụp mí nhẹ, không ảnh hưởng đến thị lực và vẻ ngoài, người bệnh có thể không cần điều trị. Nhưng nếu sụp mí nặng, làm giảm tầm nhìn hoặc ảnh hưởng thẩm mỹ, bác sĩ sẽ đánh giá nguyên nhân, mức độ sụp và ảnh hưởng của nó đến thị lực, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
Tuy nhiên, đa số các phương pháp điều trị hiện nay đều tuân theo các nguyên tắc sau
Ngoài ra, dựa vào cách phân loại các hình thức mí mắt bị sụp, bác sĩ cũng có thể cân nhắc đưa ra các phương pháp điều trị khác nhau như sau:
Phương pháp cụ thể được quyết định dựa vào mức độ chức năng của cơ nâng mi (CNCNM): trong nước đối với CNCNM <4 mm , vẫn có thể tiến hành cắt ngắn cơ nâng mí nếu có kinh nghiệm phẫu tích cơ hoàn toàn khỏi dây chằng ngang Whinall
Xem thêm: Nguyên nhân suy giảm thị lực và cách chăm sóc mắt đúng cách
Hiện nay, không có phương pháp nào chắc chắn để ngăn ngừa sụp mí, vì nhiều trường hợp xuất hiện từ khi sinh ra hoặc do lão hóa tự nhiên. Hầu hết các nguyên nhân gây sụp mí mắt mắc phải cũng khó kiểm soát.
Cách tốt nhất để kiểm soát bệnh là phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Trên thực tế, đa số các ca phẫu thuật chỉnh sửa mí mắt sụp đều thành công, giúp cải thiện tầm nhìn và phục hồi lại sự tự tin cho người bệnh.
Có thể nói. sụp mí mắt là tình trạng không thể xem thường, bởi nó có thể ảnh hưởng đến cả thị lực và thẩm mỹ. Dù nguyên nhân là bẩm sinh, lão hóa hay bệnh lý thì ngay khi phát hiện các biểu hiện bất thường, bạn nên đến Bệnh viện thăm khám và điều trị bệnh lý kịp thời.