"Săng giang mai" - Vết loét không đau nhưng không hề vô hại

Ngọc Anh

05-10-2026

goole news
16

(Bài được viết bởi các bác sĩ Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa Phương Đông)

Giang mai (Syphilis) là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây ra..

Điều khiến nhiều người chủ quan là ở giai đoạn đầu, bệnh thường chỉ xuất hiện một vết loét nhỏ, không đau, không ngứa (tức săng giang mai) nên rất dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các tổn thương ngoài da thông thường. Nhưng thực tế, đây lại là giai đoạn lây nhiễm mạnh nhất. Khi triệu chứng tự biến mất, nhiều người lầm tưởng bệnh đã khỏi, trong khi vi khuẩn vẫn tiếp tục phát triển và gây tổn thương trong cơ thể.

Giai đoạn đầu khi săng giang mai chỉ xuất hiện dưới dạng các vết loét nhỏ nhưng có khả năng lây nhiễm vô cùng mạnh mẽ

Giai đoạn đầu khi săng giang mai chỉ xuất hiện dưới dạng các vết loét nhỏ nhưng có khả năng lây nhiễm vô cùng mạnh mẽ

Biểu hiện điển hình giai đoạn I là săng giang mai (chancre):

  • Một hoặc nhiều vết loét tròn/bầu dục
  • Bờ rõ, nền sạch, màu đỏ hồng hoặc hơi cứng
  • Hoàn toàn không đau, không ngứa
  • Xuất hiện tại: sinh dục, hậu môn, miệng

Đi kèm có thể là:

  • Hạch lympho vùng bẹn: chắc, không đau

→ Tổn thương có thể tự biến mất sau 3–6 tuần dù không điều trị
→ Nhưng xoắn khuẩn vẫn lan tràn theo đường máu và bạch huyết

Nếu không được điều trị giang mai có thể diễn biến qua nhiều giai đoạn và được chia thành hai loại:

Giang mai mắc phải (acquised syphilis): do quan hệ tình dục với người bệnh

- Giang mai mới và lây (≤ 2 năm), gồm:

 + Giang mai thời kỳ I: Tổn thương điển hình gồm: săng (chancre), vết loét tròn, cứng, không đau. Vị trí vùng sinh dục, hậu môn hoặc ngoài sinh dục. Săng có thể tự lành sau vài tuần dù không điều trị.

 + Giang mai thời kỳ II sơ phát và tái phát: Xảy ra khi vi khuẩn lan qua đường máu. Biểu hiện điển hình:

  • Triệu chứng toàn thân: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng
  • Rụng tóc kiểu “mảng rừng thưa”
  • Ban dát sẩn lan tỏa toàn thân
  • Thường gặp ở lòng bàn tay, lòng bàn chân
  • Tổn thương niêm mạc, condyloma lata ở vùng ẩm

Bệnh có thể tự biến mất dù không điều trị. Đây là giai đoạn bệnh giang mai rất dễ lây truyền.

Khi giang mai đã chuyển sag giai đoạn II, các nốt săng không còn xuất hiện rải rác mà lan khắp toàn thân 

Khi giang mai đã chuyển sag giai đoạn II, các nốt săng không còn xuất hiện rải rác mà lan khắp toàn thân 

+ Giang mai kín sớm: Người bệnh không triệu chứng lâm sàng và chỉ phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh

 - Giang mai muộn và không lây (> 2 năm): xuất hiện từ năm thứ ba trở đi, gồm:

+ Giang mai kín muộn: Không có triệu chứng lâm sàng. Người bệnh chỉ được phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh hoặc có khi đẻ ra một em bé bị giang mai bẩm sinh thì người mẹ mới được phát hiện ra mắc bệnh.

 + Giang mai thời kỳ III: Xuất hiện sau nhiều năm nếu không điều trị có thể gây ra tổn thương đa cơ quan, bao gồm:

  • Tim mạch (viêm động mạch chủ, phình mạch)
  • Thần kinh (neurosyphilis)
  • Mắt, xương khớp, da (gôm giang mai)

→ Có thể gây tàn tật hoặc tử vong

Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn III, các nốt săng giang mai đã chuyển thành các khối u cứng dưới da, sau đó mềm dần, vỡ ra chảy mủ nhầy như nhựa cao su rồi hoá sẹo

Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn III, các nốt săng giang mai đã chuyển thành các khối u cứng dưới da, sau đó mềm dần, vỡ ra chảy mủ nhầy như nhựa cao su rồi hoá sẹo

Giang mai bẩm sinh (congenital syphilis)

 - Giang mai bẩm sinh sớm: xuất hiện trong hai năm đầu sau khi sinh. Các thương tổn giống như giang mai mắc phải ở thời kỳ II.

- Giang mai bẩm sinh muộn: xuất hiện từ năm thứ 2 sau khi sinh. Thương tổn giống giang mai thời kỳ III.

 - Di chứng của giang mai bẩm sinh gồm các sẹo, dị hình như trán dô và mũi tẹt tạo thành hình yên ngựa, xương chày cong lưỡi kiếm, tam chứng Hutchinson (răng Hutchinson, điếc nhất thời, lác quy tụ) do thai nhi đã mắc giang mai từ trong bào thai.

Nhóm nguy cơ cần đặc biệt lưu ý

  • Quan hệ tình dục không an toàn (âm đạo, hậu môn, miệng)

  • Nhiều bạn tình / bạn tình không rõ tình trạng STI

  • MSM (nam quan hệ đồng giới)

  • Phụ nữ mang thai (nguy cơ sinh con giang mai bẩm sinh)

Khi nào cần nghĩ đến giang mai?

Không nên chủ quan nếu có:

  • Xuất hiện vết loét tròn hoặc bầu dục, bờ rõ, nền sạch, thường không đau ở cơ quan sinh dục, hậu môn hoặc miệng (đây còn gọi là săng giang mai).
  • Nổi hạch vùng bẹn hoặc vùng lân cận.
  • Phát ban ở lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc nhiều vị trí trên cơ thể.
  • Sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, rụng tóc từng mảng.
  • Có tiền sử quan hệ tình dục không an toàn hoặc bạn tình được chẩn đoán mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, sốt nhẹ và rụng tóc từng ngày kéo dài thì không nên chủ quan, đây có thể là biểu hiện sớm của giang mai 

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, sốt nhẹ và rụng tóc từng ngày kéo dài thì không nên chủ quan, đây có thể là biểu hiện sớm của giang mai 

Chẩn đoán không thể chỉ nhìn bằng mắt 

Tại cơ sở y tế, chẩn đoán dựa vào:

  • Xét nghiệm huyết thanh không đặc hiệu/ xét nghiệm giang mai: RPR, VDRL
  • Xét nghiệm đặc hiệu: TPHA/TPPA
  • Đánh giá giai đoạn bệnh và nguy cơ biến chứng

Điều trị - Hiệu quả nếu không trì hoãn 

  • Kháng sinh lựa chọn hàng đầu như Penicillin G benzathine
  • Điều trị theo giai đoạn bệnh
  • Điều trị đồng thời bạn tình
  • Theo dõi huyết thanh sau điều trị

Khuyến cáo 

Nếu bạn có yếu tố nguy cơ hoặc nghi ngờ giang mai:

  • Hãy đi xét nghiệm càng sớm càng tốt
  • Không tự mua kháng sinh điều trị
  • Thông báo và điều trị đồng thời cho bạn tình
  • Tầm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác
22

Bài viết hữu ích?

Nguồn tham khảo

Đăng ký nhận tư vấn

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách để được nhận tư vấn

19001806 Đặt lịch khám