Bệnh sốt rét là gì? Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị

Nguyễn Thị Vân Anh

26-07-2022

16

Sốt rét là bệnh truyền nhiễm phổ biến, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe của người mắc và cộng đồng. Bệnh lý dễ lây truyền nên cần có biện pháp điều trị ngay khi phát hiện. Bài viết sau sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị bệnh sốt rét để độc giả cũng tham khảo. 

Bác sĩ chuyên khoa giải đáp bệnh sốt rét là gì?

Sốt rét nằm trong danh sách những loại bệnh truyền nhiễm phổ biến hiện nay, gây nên nhiều hệ lụy đối với sức khỏe con người. Căn bệnh dễ lây truyền từ người này sang người khác, gây ra bởi ký sinh trùng Plasmodium thông qua việc bị muỗi đốt. 

Theo thống kê, hằng năm trên thế giới ghi nhận tới 515 triệu người mắc bệnh, trong đó khoảng 1 - 3 triệu người tử vong và phần lớn là trẻ em sống ở lục địa Châu Phi và Nam sa mạc Sahara. 

Tại Việt Nam bệnh sốt rét hoành hành quanh năm, tuy nhiên tập chung chủ yếu vào đầu và cuối mùa mưa ở các tỉnh rừng núi phía Bắc. Tương tự ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ sốt rét gây bệnh trong suốt mùa mưa dài.

Sốt rét nằm trong danh sách bệnh truyền nhiễm phổ biến hiện nay

Sốt rét nằm trong danh sách bệnh truyền nhiễm phổ biến hiện nay

Sốt rét nếu được cấp cứu và điều trị kịp thời thì sức khỏe người bệnh sẽ hồi phục hoàn toàn. Nhưng nếu bệnh trở nặng thì sẽ diễn biến vô cùng nhanh chóng khiến người mắc tử vong chỉ trong vài giờ hoặc vài ngày. Do đó, đa số các ca sốt rét nặng cần được điều trị và chăm sóc với chế độ đặc biệt, tỷ lệ tử vong khi mắc sốt rét sẽ chỉ khoảng 20%.

Đối với trẻ, trường hợp nghiêm trọng có thể xảy ra những biến chứng nguy hiểm như mất máu do sốt rét thể não và tổn thương não trực tiếp. Nếu may mắn sống sót khi bị sốt rét thể não thì vẫn có nguy cơ trải qua di chứng suy giảm thần kinh và nhận thức về sau.

Tổng hợp những nguyên nhân gây bệnh sốt rét

Tác nhân chính gây sốt rét là loài ký sinh trùng sốt rét thuộc chi Plasmodium, có 5 loại ký sinh trùng thuộc chi này truyền sốt rét ở người, bao gồm:

  • Plasmodium falciparum: Loại ký sinh trùng này cực kỳ nguy hiểm.
  • Plasmodium malariae: Ký sinh trùng gây bệnh nhưng nguy cơ tử vong thấp hơn các loại khác.
  • Plasmodium ovale: Cũng gây bệnh nhưng ít biến chứng dẫn tới tử vong.
  • Plasmodium vivax: Loài này nguy hiểm ngang với Plasmodium falciparum.
  • Plasmodium knowlesi: Ký sinh trùng gây sốt rét trên loài khỉ nhưng vẫn lây bệnh cho con người và thường hoạt động mạnh ở khu vực Đông Nam Á.

 Loài muỗi Anopheles là trung gian chứa ký sinh trùng gây bệnh

 Loài muỗi Anopheles là trung gian chứa ký sinh trùng gây bệnh

Các loại ký sinh trùng tồn tại trong cơ thể muỗi và trong máu người chứ không lưu lạc tự do bên ngoài môi trường. Theo nghiên cứu, tổng cộng có tới hơn 422 loài muỗi Anopheles, trong đó có 40 loài là trung gian chính truyền bệnh.

Triệu chứng của bệnh sốt rét

Mỗi loài ký sinh trùng khác nhau sẽ có thời gian ủ bệnh và triệu chứng lâm sàng khác nhau. Cụ thể:

  • Plasmodium falciparum: Thời gian ủ bệnh từ 9 - 14 ngày (Trung bình là 12 ngày).
  • Plasmodium malariae: Thời gian ủ bệnh của loại này từ 20 đến vài tháng.
  • Plasmodium vivax: Thời gian ủ bệnh của loài này từ 12 - 17 ngày ( Trung bình là 14 ngày).
  • Plasmodium ovale: Thời gian ủ bệnh của loại này lâu nhất so với 5 loại, từ 11 ngày thậm chí đến 10 tháng.

Ký sinh trùng Plasmodium ovale có thời gian ủ bệnh từ 11 ngày thậm chí đến 10 tháng

Ký sinh trùng Plasmodium ovale có thời gian ủ bệnh từ 11 ngày thậm chí đến 10 tháng

Nếu bị bệnh sốt rét do lây nhiễm từ việc truyền máu thì thời gian ủ bệnh còn tùy thuộc theo lượng ký sinh trùng tồn tại trong máu. Tuy nhiên, trung bình thời gian ủ bệnh khá ngắn chỉ kéo dài vài ngày là bắt đầu có triệu chứng.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới WHO, có 2 mức độ lâm sàng của bệnh sốt rét đang lưu hành tại Việt Nam đó là sốt rét thông thường và sốt rét ác tính. Mỗi thể sẽ có biểu hiện khác nhau:

Triệu chứng sốt rét nhẹ

Sốt rét thông thường là khi bệnh nhân chưa xuất hiện biến chứng và được nhận diện qua các dấu hiệu sau: 

  • Cơn sốt sơ nhiễm: Người bệnh phát giác cơn sốt đầu tiên có thể bị sốt cao kéo dài trong khoảng vài ngày.
  • Cơn sốt điển hình: Người bệnh sẽ trải qua 3 giai đoạn sốt gồm sốt run, sốt nóng, vã mồ hôi. Lúc này, cơ thể người bệnh toàn thân rét run, nổi da gà, sau đó giảm dần. Thay vào đó cơ thể nóng lên kèm theo các biểu hiện như thở nhanh, mặt đỏ, đau đầu, da khô nóng. Thời gian giai đoạn này kéo dài từ 1 -3 giờ, rồi chuyển qua vã mồ hôi, thân nhiệt hạ nhanh khát nước, người bệnh cũng cảm thấy dễ chịu hơn.
  • Cơn sốt thể cụt: Cơn sốt hay gặp ở bệnh nhân đã từng bị sốt rét nhiều năm trước đó. Đặc điểm là sốt không thành cơn, chỉ thấy rét run và mỗi lần bị sốt trong khoảng 1 - 2 giờ.

Sốt run, sốt nóng, vã mồ hôi là triệu chứng điển hình của sốt rét

Sốt run, sốt nóng, vã mồ hôi là triệu chứng điển hình của sốt rét

  • Thể ký sinh trùng lạnh: Khi xét nghiệm máu người bệnh phát hiện thấy có ký sinh trùng, tuy nhiên không có biểu hiện sốt. Bệnh nhân vẫn có khả năng sinh hoạt cũng như lao động bình thường. Thể ký sinh trùng lạnh gặp nhiều ở khu vực dịch tễ bệnh sốt rét nặng.
  • Sốt do Plasmodium vivax: Người bệnh cứ cách 1 ngày lại lên cơn sốt 1 lần.
  • Sốt do Plasmodium falciparum: Loại ký sinh trùng này rất nguy hiểm, gây sốt liên tục và cơn sốt thường ác tính, nếu không xử lý kịp thời sẽ có nguy cơ tử vong cao.
  • Sốt do Plasmodium ovale và Plasmodium malariae: Người bệnh cách 3 ngày lại sốt 1 lần.

Triệu chứng sốt rét ác tính

Ngoài những triệu chứng nói trên, sốt rét có triệu chứng ác tính sau:

  • Thể não: Đây là triệu chứng chiếm 80 - 95% trong số các ca sốt ác tính hiện nay.
  • Rối loạn ý thức: Người bệnh mất ngủ nhiều, sốt cao, đau đầu, nôn mửa gây mê sảng, li bì hoặc vật vã, nói nhảm.
  • Thể giá lạnh: Biểu hiện của thể khiến người bệnh toàn thân lạnh, tụt huyết áp, da xanh tái, đau đầu.
  • Thể tiểu huyết sắc tố: Với thể này, người bệnh sẽ gặp những biểu hiện như nôn nao, sốt cao, đau lưng, vàng da, nước tiểu có màu đỏ, lượng nước tiểu giảm dần, hồng cầu, huyết sắc tố giảm. Đây là thể diễn biến nặng do tán huyết ồ ạt, trụy tim, suy thận gây ra.
  • Thể phổi: Khi sốt rét, người bệnh khó thở, thở nhanh, tím tái, đáy phổi có nhiều ran ngáy.
  • Thể gan mật: Ở thể này, người bệnh sẽ gặp phải triệu chứng như vàng mắt, vàng da, buồn tiểu, buồn nôn, hôn mê.
  • Thể tiêu hóa: Cùng với các triệu chứng tiêu chảy cấp, đau bụng, buồn nôn, hạ thân nhiệt.

Bên cạnh đó, một số đối tượng đặc biệt khi bị sốt rét có những biểu hiện và mức độ nguy hiểm khác nhau.

  • Phụ nữ khi mang thai bị sốt rét có thể dẫn đến lưu thai, sảy thai, sinh non.
  • Trẻ em bị sốt rét biểu hiện như sốt cao liên tục, tiêu chảy, gan lách to, bụng chướng, co giật, tỷ lệ tử vong ở trẻ bị sốt rét tương đối cao.

Phương pháp chẩn đoán bệnh sốt rét 

Hiện nay, bệnh sốt rét được chẩn đoán bằng các phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng. Cụ thể:

Chẩn đoán lâm sàng

Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng điển hình hoặc sốt không điển hình mà không thực hiện xét nghiệm máu hoặc kết quả âm tính nhưng có 4 đặc điểm sau:

  • Hiện đang sốt hoặc sốt trong 3 ngày gần đây.
  • Trường hợp không giải thích được nguyên nhân gây sốt.
  • Đang qua lại hoặc ở vùng sốt rét trong vòng 9 tháng trở lại.
  • Điều trị bằng thuốc sốt rét trong 3 ngày được đáp ứng tốt.

Chẩn đoán ký sinh trùng học

Để chẩn đoán ký sinh trùng học, trước đây thường chỉ dựa vào chẩn đoán hình thể sinh trùng. Tuy nhiên, ngày nay do sự phát triển không ngừng của y học, đặc biệt là ngành sinh học phân tử và miễn dịch học, việc chẩn đoán ký sinh trùng đã trở nên hiệu quả và dễ dàng hơn.

  • Phương pháp nhuộm Giemsa: Cho đến nay, phương pháp nhuộm giemsa vẫn được coi là phương pháp chẩn đoán ký sinh trùng sốt rét chính xác nhất.
  • Phương pháp nhuộm nhanh Acridine Orange (AO) soi kính hiển vi huỳnh quang.
  • Phương pháp Quantitative Buffy Coat (QBC) soi kính hiển vi huỳnh quang.
  • Các test chẩn đoán nhanh dựa trên phương pháp miễn dịch sắc ký phát hiện kháng nguyên ký sinh trùng sốt rét trong máu.
  • Phương pháp sinh tử học phân tử polymerase chain reaction - PCR: Có độ đặc và độ nhạy cao, dễ dàng phát hiện 1 ký sinh trùng/mm3 máu, chẩn đoán được sốt rét tái nhiễm hay tái phát.
  • Phương pháp phát hiện kháng thể kháng sinh trùng sốt rét: Phương pháp huỳnh quang gián tiếp và phương pháp miễn dịch gắn men đều phát hiện kháng thể trong huyết thanh người bệnh.

Đối tượng nào có nguy cơ cao mắc bệnh sốt rét

Nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị sốt rét là:

  • Phụ nữ có thai, trẻ nhỏ ở những vùng có tỷ lệ bệnh sốt rét cao.
  • Người bị HIV/AIDS.

Bệnh sốt rét dễ mắc và tỷ lệ nhiễm bệnh cao

Bệnh sốt rét dễ mắc và tỷ lệ nhiễm bệnh cao

  • Di cư, công tác hoặc du lịch tới những vùng sốt rét đang hoành hành.
  • Tập quán lên rừng canh tác, ngủ qua đêm trên rừng.
  • Du khách tù những quốc gia không có dịch sốt rét đến vùng có dịch.

Bệnh sốt rét lây truyền như thế nào?

Đa số đường lây truyền bệnh sốt rét là qua vết đốt của muỗi cái, trong đó, có khoảng 400 loại muỗi anophen và khoảng 30 vector truyền bệnh. Vì vậy, cường độ lây truyền bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ký sinh trùng, vật chủ con người, vector truyền bệnh và môi trường xung quanh.

Loài muỗi anophen đẻ trứng trong nước, trứng nở thành ấu trùng, sau đó nổi lên trở thành muỗi trưởng thành. Những con muỗi cái đi tìm máu để nuôi dưỡng trứng của chúng.

Chu kỳ lây truyền sốt rét qua loài muỗi này:

  • Muỗi nhiễm ký sinh trùng khi đốt một người có bệnh sốt xuất rét.
  • Lây truyền ký sinh trùng, bệnh bằng cách đốt một người khỏe mạnh khác.
  • Khi ký sinh trùng trưởng thành, chúng rời khỏi gan và đi vào các tế bào hồng cầu máu. Đây là lúc người bệnh khởi phát các triệu chứng của sốt rét.
  • Sau đó, muỗi tiếp tục đốt người này, mang ký sinh trùng theo người (trung gian) và lây nhiễm cho người khác.

Muỗi là đường lây truyền chính của sốt rét 

Muỗi là đường lây truyền chính của sốt rét 

Ký sinh trùng sốt rét thường nằm trong các tế bào máu nên một người có thể nhiễm sốt rét thông qua con đường ít phổ biến hơn như:

  • Từ mẹ sang con.
  • Truyền máu của người bị sốt xuất huyết.
  • Dùng chung ống kim tiêm.

Biện pháp điều trị bệnh sốt rét

Bệnh nhân sốt rét tuyệt đối không tự điều trị tại nhà, tránh trường hợp lây nhiễm sang người khác. Bên cạnh đó, nếu tình trạng bệnh kéo dài không thuyên giảm sẽ xuất hiện biến chứng nguy hiểm và có thể gây tử vong. Tùy theo tình trạng cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định các biện pháp điều trị riêng biệt như:

Điều trị cắt cơn sốt

Trong trường hợp bị nhiễm ký sinh trùng Plasmodium vivax có thể được chỉ định dùng các thuốc:

  • Chloroquine tổng liều 25mg/kg cân nặng cho 3 ngày điều trị: ngày 1 và ngày 2 uống khoảng 10 mg/kg cân nặng, ngày 3 uống 5 mg/kg.
  • Có thể sử dụng Artesunat dùng trong 7 ngày, không chỉ định sử dụng cho phụ nữ mang thai 3 tháng đầu trừ khi bệnh nhân bị sốt rét ác tính.
  • Hoặc Quinin sulfat liều 30 mg/kg/24 giờ cho 3 lần uống trong ngày, điều trị khoảng 7 ngày.

Nếu người bệnh bị nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum:

  • Điều trị bằng thuốc phối hợp có dẫn xuất artemisinin như CV artecan hoặc thuốc viên Arterakine.

Liều lượng sẽ phụ thuộc vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định liều lượng khác nhau.

Điều trị chống lây lan và tái phát

Dưới sự hướng dẫn của Bộ Y tế, người bệnh bị nhiễm ký sinh Plasmodium falciparum hoặc nhiễm phối hợp Plasmodium falciparum (bệnh nhân sốt rét thể thông thường) cần sử dụng thuốc điều trị chống lây lan và tái phát. Thuốc thường được bác sĩ chỉ định gồm:

  • Chữa sốt rét nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum: Người  bệnh cần sử dụng 40mg Dihydroartemisinin cùng với 320mg Piperaquine phosphate. Liều dùng đối với trẻ em dưới 3 tuổi, ngày đầu dùng 1 viên,hai ngày tiếp theo mỗi ngày 1⁄2 viên. Trẻ từ 3-8 tuổi, ngày đầu tiên dùng 2 viên, hai ngày tiếp mỗi ngày 1 viên. Trẻ từ tuổi 8-15, ngày đầu dùng 3 viên, hai ngày sau mỗi ngày 1,5 viên. Từ 15 trở đi, ngày đầu 4 viên, hai ngày sau mỗi ngày dùng 2 viên. Phụ nữ đang mang thai 3 tháng đầu tuyệt đối không sử dụng thuốc này.

Bệnh nhân bị sốt rét cần sử dụng thuốc điều trị chống lây lan và tái phát

Bệnh nhân bị sốt rét cần sử dụng thuốc điều trị chống lây lan và tái phát

  • Khi người bệnh sốt rét nhiễm phối hợp có Plasmodium falciparum: Bệnh nhân sử dụng thuốc Dihydroartemisinin - Piperaquine phosphat uống 3 ngày kết hợp cùng với Primaquin 0,25 mg base/kg cân nặng dùng trong 14 ngày và điều trị từ ngày đầu tiên.

Điều trị sốt rét ác tính

Đối với người bệnh bị sốt rét ác tính, các bác sĩ sẽ chỉ định dùng Artesunat theo đường tiêm tĩnh mạch. Trong trường hợp người bệnh có biểu hiện co giật, bị sốc hoặc phù phổi cấp thì tuyệt đối không được di chuyển người bệnh. Giờ đầu tiêm mũi Artesunat tĩnh mạch 2,4mg/kg cân nặng cho bệnh nhân, sau 24h tiêm nhắc lại 1,2mg/kg cân nặng. 

Sau đó tiêm mỗi ngày 01 liều 1,2mh/kh cân nặng đến khi người bệnh có thể uống thuốc được thì chuyển sang sử dụng thuốc uống trong 7 ngày.

Những lưu ý cần nắm rõ trong quá trình điều trị sốt rét

Khi nhận thấy triệu chứng ban đầu của sốt rét, người bệnh thường rất lo lắng và không biết khi bị bệnh cần lưu ý điều gì? Theo đó, điều đầu tiên người mắc bệnh cần làm là tuyệt đối không tự điều trị tại nhà mà cần đến các cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị đúng cách, tránh trường hợp lây nhiễm bệnh sang người khác. Bên cạnh đó, tình trạng bệnh kéo dài sẽ xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm, gây tử vong.

Người bệnh và gia đình lưu ý cần nắm rõ nguyên tắc như sau:

  • Điều trị sớm: Nhận biết dấu hiệu bệnh sớm, ngay sau khi các triệu chứng bệnh xuất hiện (trẻ em trong vòng 12 giờ, người lớn trong vòng 24 giờ) để điều trị càng sớm càng tốt.
  • Điều trị đúng thuốc, đủ liều, đủ thời gian (theo đúng phác đồ): Phải đảm bảo người bệnh uống được và đủ liều thuốc cần thiết.
  • Điều trị chống lây lan và chống tái phát: Diệt thể ngủ trong gan với thuốc Plasmodium vivax, Plasmodium ovale.
  • Theo dõi chặt chẽ kết quả điều trị để có biện pháp xử lý thích hợp và kịp thời.

Biện pháp phòng bệnh sốt rét bạn nên biết

Sốt rét là bệnh lý nguy hiểm, không chỉ gây ra nhiều triệu chứng khó chịu, ảnh hưởng sức khỏe, cuộc sống của người mắc mà tỷ lệ tử vong cũng khá cao. Hơn nữa, bệnh dễ lây lan, khi thành dịch sẽ rất khó kiểm soát.

Vì thế, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa để bảo vệ sức khỏe:

  • Khi ngủ nên sử dụng màn để ngăn ngừa muỗi đốt.
  • Vệ sinh thường xuyên nhà cửa, giữ môi trường sạch sẽ, thoáng mát, ngăn ngừa muỗi phát triển.
  • Tuyên truyền, giáo dục và phổ biến phòng chống sốt rét trong cộng đồng, khi có biểu hiện cần đi khám ở cơ sở y tế uy tín.

Vệ sinh nhà cửa thường xuyên giúp phòng bệnh sốt rét

Vệ sinh nhà cửa thường xuyên giúp phòng bệnh sốt rét

  • Sử dụng kem chống muỗi.
  • Bảo đảm nguồn nước vệ sinh.
  • Phun thuốc diệt muỗi định kỳ.
  • Đảm bảo an toàn trong tiêm trích, truyền máu.

Hi vọng bài viết về bệnh sốt rét đã cung cấp cho bạn đọc thông tin bổ ích, cần thiết để phòng ngừa và điều trị bệnh. Việc sử dụng thuốc trong điều trị sốt rét cần có chỉ định về liều lượng cụ thể của bác sĩ cho từng trường hợp cụ thể. Để được thăm khám, hỗ trợ khi bản thân có những triệu chứng bệnh lý bất thường, Quý khách vui lòng gọi số 1900 1806.

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

175

Bài viết hữu ích?

Đăng ký tư vấn

Đặt hẹn ngay để nhận tư vấn và xếp lịch khám kịp thời

Hướng dẫn cách xử trí sốt rét sau khi tiêm vacxin

Sốt là một trong những phản ứng phổ biến sau khi thực hiện tiêm vacxin. Triệu chứng này biểu thị tinh thần đáp trả của cơ thể khi có tác nhân lạ xâm nhập.