Có những người chỉ cần nhìn thấy kim tiêm đã choáng váng, nghe tiếng sấm là tim đập liên hồi hoặc từ chối bước lên máy bay dù biết chuyến bay không nguy hiểm đến thế. Đôi khi, đây không phải là biểu hiện của sự nhút nhát hay “yếu bóng vía” mà có thể là triệu chứng của chứng rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu.
Ám ảnh sợ đặc hiệu là bệnh gì?
Ám ảnh sợ đặc hiệu là bệnh lý thuộc nhóm rối loạn lo âu, đặc trưng bởi nỗi sợ hãi mạnh mẽ, kéo dài đối với các vật thể hoặc tình huống cụ thể, lớn hơn rất nhiều so với nguy cơ thực tế. Theo các bác sĩ của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Tinh thần Phương Đông, đa số người bệnh nhận thức được nỗi sợ vô lý này nhưng không thể tự chủ được mà vẫn có những phản ứng thái quá về mặt cảm xúc và hành vi.
Nếu so sánh với nỗi sợ hãi thông thường, hội chứng này liên quan đến sự hoạt động bất thường của não bộ và có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời. Đặc biệt, việc liên tục né tránh những sự vật, tình huống cụ thể trong cuộc sống sẽ khiến người bệnh đánh mất nhiều cơ hội trong học tập, công việc và các mối quan hệ trong cuộc sống.
Không giống cảm giác lo lắng thông thường, chứng ám ảnh này có thể tồn tại nhiều năm, thậm chí kéo dài suốt đời nếu không được điều trị. Theo thời gian, người bệnh thường hình thành thói quen né tránh mọi tình huống liên quan, khiến học tập, công việc và các mối quan hệ xã hội bị ảnh hưởng đáng kể. Theo thống kê từ Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA), ước tính tỷ lệ mắc bệnh lý này trong cộng đồng mỗi năm là 7 - 9%.

Nỗi sợ do hội chứng này gây ra có thể kéo dài nhiều năm, nếu không được điều trị
Các dấu hiệu cảnh báo nỗi ám ảnh sợ đặc hiệu
Điểm đặc trưng của rối loạn này là cảm giác sợ hãi xuất hiện gần như ngay lập tức khi người bệnh nhìn thấy, nghĩ đến hoặc chuẩn bị tiếp xúc với đối tượng gây ám ảnh. Một số tình huống hoặc đối tượng có thể gây ra nỗi sợ cao độ, bao gồm:
- Sợ các tình huống: Đi máy bay, lái xe, ở trong không gian kín (thang máy, tầng hầm...), đi học...
- Sợ các yếu tố tự nhiên: Độ cao, giông bão, bóng tối...
- Sợ động vật hoặc côn trùng: Chó, rắn, nhện...
- Sợ máu và các thủ thuật y khoa: Máu, kim tiêm, tiêm chích, lấy máu, tai nạn, phẫu thuật...
- Sợ các tình huống đặc biệt khác: Nghẹn, nôn mửa, tiếng động lớn, chú hề…

Có nỗi sợ quá lớn với các thủ thuật y khoa có thể là triệu chứng của hội chứng ám ảnh sợ đặc hiệu
Khi tiếp xúc hoặc thậm chí chỉ nghĩ đến đối tượng gây ám ảnh, người bệnh có thể xuất hiện một số triệu chứng như sau:
Về tâm lý và hành vi
- Cảm thấy sợ hãi, lo lắng hoặc hoảng loạn dữ dội ngay lập tức.
- Biết rằng nỗi sợ của mình là quá mức nhưng không thể kiểm soát được.
- Nỗi sợ hãi và căng thẳng tăng dần khi đối tượng hoặc tình huống gây sợ hãi đến gần.
- Luôn tìm cách né tránh đối tượng hoặc tình huống gây sợ hãi; nếu buộc phải đối mặt sẽ chịu đựng với tâm lý lo lắng cực độ.
- Nỗi sợ ảnh hưởng đến học tập, công việc, các mối quan hệ và sinh hoạt hằng ngày.
Về thể chất
- Tim đập nhanh, hồi hộp.
- Đổ nhiều mồ hôi.
- Tức ngực, khó thở.
- Buồn nôn, chóng mặt.
- Có thể ngất xỉu, đặc biệt ở những người sợ máu, kim tiêm hoặc vết thương.
Ở trẻ em, chứng ám ảnh sợ đặc hiệu thường biểu hiện bằng việc khóc lóc, bám chặt người thân, la hét hoặc nhất quyết từ chối tiếp xúc với đối tượng khiến trẻ sợ hãi.
Ai dễ mắc chứng ám ảnh sợ đặc hiệu?
Ai cũng có thể mắc chứng ám ảnh sợ đặc hiệu nhưng theo thống kê, nguy cơ cao hơn ở một số nhóm đối tượng dưới đây:
- Từng trải qua sự kiện sang chấn: Bị chó cắn, mắc kẹt trong thang máy, tai nạn giao thông, trải nghiệm y khoa đau đớn... đều có thể khiến não bộ hình thành phản xạ sợ hãi kéo dài đối với tình huống tương tự.
- Lắng nghe hoặc chứng kiến trải nghiệm tiêu cực của người khác: Các bác sĩ Tâm thần cũng phát hiện một số trường hợp bệnh nhân bị ám ảnh nỗi sợ đặc hiệu sau khi chứng kiến người thân gặp tai nạn hoặc thường xuyên nghe kể về những sự việc đáng sợ.
- Tiền sử gia đình có rối loạn lo âu: Những người có cha mẹ hoặc anh chị em mắc các rối loạn lo âu có nguy cơ mắc bệnh cao hơn do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường sống.
- Đặc điểm tính cách: Người nhạy cảm, dễ lo âu, thận trọng quá mức hoặc có xu hướng suy nghĩ tiêu cực thường dễ rơi vào các cơn rối loạn lo âu, sợ hãi đặc hiệu hơn.
- Một số bệnh lý tâm thần khác: Ám ảnh sợ đặc hiệu có thể xuất hiện đồng thời với rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa hoặc trầm cảm.
Chẩn đoán bệnh ám ảnh sợ đặc hiệu như thế nào?
Hiện nay, các chuyên gia sức khỏe tâm thần thường sử dụng bộ tiêu chuẩn trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần DSM-5 để chẩn đoán bệnh. Một người được kết luận mắc hội chứng ám ảnh sợ đặc hiệu nếu đáp ứng các tiêu chí dưới đây:
- Có nỗi sợ hãi dữ dội, dai dẳng hoặc vô lý so với nguy cơ thực tế về một vật thể hoặc đối tượng cụ thể như sợ độ cao, sợ đi máy bay, sợ động vật, sợ kim tiêm hoặc sợ nhìn thấy máu.
- Chỉ cần tiếp xúc hoặc nghĩ đến đối tượng gây sợ cũng khiến người bệnh lo lắng dữ dội, thậm chí xuất hiện cơn hoảng loạn. Ở trẻ nhỏ, các bé có xu hướng khóc lóc, ăn vạ, bám chặt vào cha mẹ hoặc đứng im vì sợ hãi.
- Người bệnh nhận thức được nỗi sợ của mình là quá mức hoặc không hợp lý nhưng vẫn không thể kiểm soát được cảm xúc đó. (Không áp dụng ở trẻ em.)
- Luôn tìm cách né tránh đối tượng hoặc tình huống gây ra cơn sợ hãi. Nếu buộc phải đối mặt, người bệnh sẽ trải qua cảm giác lo âu, căng thẳng rất mạnh.
- Nỗi sợ gây ảnh hưởng rõ rệt đến cuộc sống, làm cản trở việc học tập, công việc, sinh hoạt hoặc các mối quan hệ xã hội.
- Các triệu chứng kéo dài ít nhất 6 tháng.
- Những biểu hiện này không phải là triệu chứng do một rối loạn tâm thần khác gây ra.
Điều trị ám ảnh sợ đặc hiệu như thế nào?
Để điều trị rối loạn tâm thần này, các bác sĩ sẽ tiến hành chỉ định cho bệnh nhân dùng thuốc và thực hiện liệu pháp phơi nhiễm.
Dùng thuốc
Đây không phải là phương pháp điều trị chính tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông. ThS.BSNT Nguyễn Đình Nam đã trao đổi với các bệnh nhân tâm bệnh trong quá trình kê đơn rằng thuốc chỉ đóng vai trò bổ trợ. Việc dùng thuốc chỉ có vai trò xoa dịu các triệu chứng căng thẳng, sợ hãi về mặt cơ thể như tim đập nhanh, run tay,...
Đơn thuốc sẽ được kê theo từng tuần hay từng tháng. Bởi thứ nhất, chỉ uống thuốc không thể điều trị được nguyên nhân gốc rễ gây bệnh. Thứ hai, một số loại thuốc điều trị tâm bệnh có thể gây ra các tác dụng phụ nên việc dùng thuốc phải được kiểm soát gắt gao.

Việc điều trị bằng thuốc chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thể phụ thuộc hoàn toàn (Ths. BSNT Nguyễn Đình Nam cho hay)
Liệu pháp phơi nhiễm
Song song trong quá trình dùng thuốc, các chuyên gia tâm lý sẽ tiến hành trị liệu bằng liệu pháp phơi nhiễm cho những người có chứng ám ảnh sợ đặc hiệu. Nguyên tắc của phương pháp điều trị này là giúp người bệnh đối diện với nỗi sợ theo từng bước nhỏ, an toàn và có kiểm soát, thay vì tiếp tục né tránh.
Chuyên gia tâm lý sẽ sắp xếp nhiều buổi điều trị trong một lộ trình. Ở mỗi buổi trị liệu, bệnh nhân sẽ được học cách đối diện với những tình huống ít gây lo lắng nhất. Ví dụ, người sợ chó có thể bắt đầu bằng việc xem ảnh, xem video, đứng cách xa một chú chó, rồi mới dần tiếp xúc trực tiếp khi đã cảm thấy thoải mái hơn. Trong suốt quá trình này, chuyên gia tâm lý sẽ hướng dẫn người bệnh các kỹ thuật thư giãn, kiểm soát hơi thở và điều chỉnh suy nghĩ để giảm phản ứng lo âu.

Phương pháp điều trị chính của hội chứng này là trị liệu bằng liệu pháp phơi nhiễm với chuyên gia tâm lý
Khi não bộ liên tục nhận được tín hiệu rằng đối tượng gây sợ không thực sự nguy hiểm, cảm giác sợ hãi sẽ giảm dần theo thời gian. Đa số người bệnh đều ghi nhận cải thiện rõ rệt sau khi kiên trì thực hiện liệu pháp, thậm chí nhiều trường hợp có thể vượt qua hoàn toàn nỗi ám ảnh mà không cần quay lại dùng thuốc hỗ trợ.
Xem thêm: Khám trầm cảm ở đâu Hà Nội? Review khám tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông
Bệnh ám ảnh sợ đặc hiệu có nguy hiểm không?
Theo ThS.BSNT Nguyễn Đình Nam - Phó Giám đốc Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Tinh thần Phương Đông, tâm bệnh không đe dọa trực tiếp đến tính mạng nhưng có thể khiến sức khỏe tinh thần và cuộc sống suy giảm nghiêm trọng. Riêng với hội chứng này, người bệnh có thể gặp các vấn đề sức khỏe như sau:
- Đánh mất nhiều cơ hội trong học tập hoặc phát triển nghề nghiệp vì luôn có xu hướng tránh né.
- Cảm thấy cô đơn, khó kết bạn vì hay có hành vi khác biệt.
- Không ổn định về mặt cảm xúc, dễ mắc bệnh trầm cảm và các rối loạn lo âu khác.
- Tăng nguy cơ lạm dụng rượu bia hoặc thuốc an thần để đối phó với cảm giác lo lắng và sợ hãi nghiêm trọng.
- Phụ thuộc quá mức vào người thân trong sinh hoạt hằng ngày.
Khi nào cần đi khám bác sĩ?
Không phải mọi nỗi sợ đều là triệu chứng của rối loạn tâm thần. Bạn chỉ nên đến bệnh viện thăm khám khi nỗi sợ hãi đó kéo dài, liên tục gây căng thẳng và những áp lực về mặt tinh thần. Ngoài ra, bạn cũng nên quan sát các triệu chứng về mặt sinh lý. Nếu cảm thấy khó thở, tim đập nhanh khi đối diện với đối tượng gây sợ hãi thì bạn cũng nên sắp xếp thời gian đi gặp bác sĩ chuyên khoa.
Có thể nói, ám ảnh sợ đặc hiệu là một trong số những rối loạn tâm thần thường gặp nhất, được hình thành từ hoạt động bất thường của não bộ và gây ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ và hành vi của người bệnh. Mặc dù phổ biến nhưng đây là bệnh có thể điều trị và kiểm soát được, giúp bạn thoát khỏi nỗi sợ hãi của mình trong suốt cả cuộc đời.